Để công nghệ đến gần học sinh miền núi, cần những cách làm phù hợp với điều kiện từng trường. Từ vật liệu sẵn có đến thiết bị được hỗ trợ, vai trò hướng dẫn của giáo viên giúp các em từng bước khám phá và sáng tạo.
Khơi mở từ những điều gần gũi
Khoảng cách trong tiếp cận công nghệ có thể bắt đầu từ việc học sinh thiếu thiết bị, ít cơ hội thực hành hoặc còn e ngại trước những kiến thức mới. Bởi vậy, cùng với đầu tư cơ sở vật chất, các trường vùng cao chú trọng tạo môi trường để các em được thử sức. Một bài học gắn với đời sống, một mô hình có thể tự tay lắp ráp là cách đưa khoa học đến gần người học.
Đó cũng là hướng đi của Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Mậu Duệ, xã Mậu Duệ, tỉnh Tuyên Quang. Ông Vi Văn Luyện, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, hạ tầng và điều kiện kinh tế còn là rào cản khiến học sinh miền núi chịu thiệt thòi trong tiếp cận công nghệ hiện đại. Trước thực tế ấy, nhà trường xác định cần chủ động, sáng tạo để mở thêm cơ hội học tập cho các em.
“Đội ngũ giáo viên tập trung tận dụng vật liệu tái chế để dạy bài học STEM cơ bản, khơi gợi tư duy lập trình qua các nền tảng miễn phí, và gắn giáo dục trải nghiệm với chính đời sống thực tế vùng cao”, ông Luyện chia sẻ. Với cách tiếp cận này, điều kiện sẵn có trở thành điểm khởi đầu để học sinh làm quen với khoa học, vận dụng kiến thức vào những vấn đề gần gũi.
Để tổ chức hoạt động phù hợp, giáo viên cũng phải liên tục học hỏi. Tại Mậu Duệ, đội ngũ nhà giáo chú trọng nâng cao năng lực chuyển đổi số, đồng hành cùng học sinh trong từng mô hình sáng tạo. Việc tự học của thầy cô gắn với yêu cầu thực tế, từ lựa chọn công cụ, thiết kế bài học đến hướng dẫn các em thực hành.
Cùng với nỗ lực chuyên môn, nhà trường tích cực kết nối các tổ chức, doanh nghiệp, vận động bổ sung trang thiết bị phục vụ dạy và học. Theo ông Luyện, sự chủ động của giáo viên cần đi cùng việc tranh thủ nguồn hỗ trợ để cải thiện điều kiện tiếp cận công nghệ. Đây là cơ sở để nhà trường từng bước mở rộng những hoạt động trải nghiệm dành cho học sinh.
Nếu ở Mậu Duệ, vật liệu tái chế và nền tảng miễn phí được tận dụng cho các bài học cơ bản, thì tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú THCS và THPT Đồng Văn, xã Đồng Văn, học sinh có thêm cơ hội tiếp cận công nghệ qua Robotics. Nhà trường và giáo viên chủ động thành lập câu lạc bộ STEM, khai thác nền tảng học lập trình trực tuyến mở, lắp ráp và chế tạo thiết bị từ linh kiện sẵn có để tiết kiệm chi phí.
Cô giáo Vàng Thị Dính cho rằng, điều quan trọng là biến kiến thức thành những hoạt động trải nghiệm sinh động, có sự đồng hành của thầy cô. Khi được trực tiếp tháo lắp, điều khiển robot, học sinh từng bước vượt qua tâm lý tự ti. Việc thấy sản phẩm mình tham gia chế tạo chuyển động trở thành động lực để các em tiếp tục tìm hiểu khoa học.
“Chính việc được tự tay sáng tạo và thấy sản phẩm thực tế chuyển động đã khơi dậy niềm đam mê khoa học, giúp học sinh vùng khó tiếp cận bình đẳng với các phương pháp giáo dục hiện đại, từng bước rút ngắn khoảng cách tri thức với học sinh miền xuôi”, cô Dính chia sẻ.
Từ những cách làm ấy, có thể thấy cơ hội tiếp cận công nghệ gắn chặt với cách tổ chức dạy học. Giáo viên lựa chọn nội dung vừa sức, hướng dẫn thao tác và khuyến khích học sinh thể hiện ý tưởng sẽ giúp các em tự tin tham gia. Sự kiên trì của thầy cô vì thế có ý nghĩa ngay từ những bước làm quen đầu tiên.
Nguồn lực gắn với cơ hội học tập
Nỗ lực của nhà trường cần được tiếp sức bằng điều kiện thực hành phù hợp. Với học sinh miền núi, biên giới, một phòng STEM được đầu tư mở thêm khả năng tiếp cận những thiết bị phục vụ khám phá khoa học. Nguồn hỗ trợ từ doanh nghiệp, tổ chức góp phần bổ sung điều kiện để giáo viên triển khai các hoạt động giáo dục trải nghiệm.
Tại lễ khai giảng và khánh thành Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang năm nay, Petrovietnam trao 2 tỷ đồng hỗ trợ xây dựng phòng thực hành STEM. Nguồn hỗ trợ hướng tới tăng cường cơ sở vật chất giáo dục khoa học, công nghệ cho học sinh vùng biên giới, tạo điều kiện học tập gắn với thực hành và phát triển tư duy sáng tạo.
Để sự hỗ trợ chuyển thành cơ hội học tập, quá trình đầu tư cần gắn với chuẩn bị đội ngũ, nội dung thực hành và kế hoạch sử dụng. Khi giáo viên có khả năng khai thác thiết bị, những ý tưởng đổi mới bài học sẽ có thêm điều kiện thực hiện. Việc duy trì hoạt động thường xuyên cũng giúp phòng thực hành phát huy giá trị trong đời sống nhà trường.
Tại Phú Thọ, giáo dục STEM đã có nền tảng hoạt động ở nhiều cơ sở. Thông tin từ Sở GD&ĐT Phú Thọ cho thấy, toàn tỉnh có 246 câu lạc bộ STEM với hơn 19.000 thành viên; 27 phòng STEM riêng và 215 phòng tích hợp với phòng thực hành Khoa học tự nhiên. Các hình thức bố trí khác nhau cho thấy khả năng tổ chức hoạt động dựa trên không gian, thiết bị hiện có.
Cùng với hệ thống phòng thực hành, học sinh toàn tỉnh đã tự làm 298 thiết bị STEM. Sự tham gia của các em bổ sung một khía cạnh đáng chú ý trong giáo dục trải nghiệm, khi người học trực tiếp góp sức tạo ra sản phẩm. Tỉnh cũng tiếp nhận 3 phòng học STEM tiêu chuẩn quốc tế do Petrovietnam tài trợ, tăng thêm nguồn lực phục vụ dạy học thực hành.
Tuy nhiên, điều kiện triển khai giữa các cơ sở còn khác biệt. Hạ tầng công nghệ thông tin và thiết bị ở một số trường vùng sâu, vùng xa của Phú Thọ đã xuống cấp, thiếu phòng học thông minh và phòng STEM đạt chuẩn. Sở đề nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư hạ tầng số, thiết bị và phòng STEM, đặc biệt cho khu vực miền núi, vùng khó khăn.
Ở góc độ khác, từ thực tế quản lý trường vùng cao, bà Nguyễn Thị Đào, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Yên Minh, xã Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang, nhấn mạnh yêu cầu lựa chọn giải pháp phù hợp. Nhà trường khuyến khích giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, phát huy sáng kiến trong giảng dạy, đồng thời cân nhắc điều kiện cơ sở vật chất và khả năng tiếp cận công nghệ của học sinh.
Theo bà Đào, ứng dụng công nghệ cần hướng tới nâng cao hiệu quả học tập, phát triển năng lực và tạo thêm cơ hội tiếp cận tri thức cho học sinh vùng khó. Quan điểm ấy đặt người học vào trung tâm của việc lựa chọn thiết bị và đổi mới phương pháp. Mỗi nguồn lực được bổ sung cần đi cùng cách sử dụng phù hợp để học sinh được hưởng lợi.
Từ những vật liệu gần gũi đến phòng thực hành được hỗ trợ đầu tư, con đường đưa công nghệ tới vùng cao đang được mở bằng nhiều cách. Khi có thiết bị phù hợp và thầy cô đồng hành, học sinh có thêm cơ hội khám phá, thử nghiệm, thể hiện ý tưởng. Duy trì những cơ hội ấy trong từng bài học là cơ sở để hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền.