Gắn với vị trí việc làm
Chiều 7/11, trong khuôn khổ hội nghị triển khai góp ý dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư do Bộ GD&ĐT tổ chức, nhiều ý kiến trao đổi tâm huyết được các chuyên gia, nhà khoa học đưa ra. Hội nghị dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, cùng dự có Thứ trưởng Phạm Quang Hưng và đại diện một số vụ/cục/đơn vị liên quan.
Chia sẻ tại đây, GS.TS Hoàng Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) cho rằng, dự thảo thông tư có nội dung, hình thức chặt chẽ, căn bản đã tiếp thu nhiều ý kiến phản biện từ các chuyên gia, nhà khoa học.
So với Quyết định 37, dự thảo thông tư đã có sự kế thừa mang tính thực tiễn gắn với các trường đại học của Việt Nam nhưng bị không dập khuôn, tiếp cận các quy chuẩn chung về học hàm giáo sư, phó giáo sư của quốc tế, nhất là ở các yếu tố vị trí việc làm. Việc ban hành dự thảo thông tư trong thời điểm này là rất phù hợp.
Theo dự thảo thông tư, nguồn ứng viên rất rộng mở. Dù vậy, một số lĩnh vực đặc thù trong Khoa học Xã hội và Nhân văn như Dân tộc học hay Khảo cổ học sẽ rất khó để tìm các chuyên gia tham gia hội đồng cho đủ được 7 vị trí hay tối thiểu 5 vị trí.
"Tôi cho rằng, một là độ mở liên quan đến ngành, hai là độ mở liên quan đến quốc tịch, tức là các thành viên hội đồng có thể là chuyên gia nước ngoài. Tôi nghĩ với sự mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế những năm qua, số lượng giáo sư nước ngoài liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn gắn với Việt Nam cũng ngày càng nhiều" - GS.TS Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh.
PGS.TS Hoàng Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho biết, theo tinh thần Nghị quyết 57, chúng ta đang thúc đẩy các hoạt động về đổi mới sáng tạo, văn bằng sáng chế. Tuy nhiên, ở trong dự thảo này toàn bộ nội dung liên quan đến các kết quả văn bằng sáng chế chưa được đề cập tới nhiều. Ông kiến nghị ban soạn thảo có thể xem xét để đưa thêm vào các điều kiện tối thiểu.
Nội dung thứ hai, là về năng lực tổ chức và dẫn dắt nghiên cứu hiện nay cũng đang chưa được đưa vào, mà chủ yếu tập trung vào các bài báo. Nội dung thứ ba liên quan đến yêu cầu tối thiểu về thời gian giảng dạy. Đối với thời gian trực tiếp giảng dạy của giáo sư đang yêu cầu là trong ít nhất 3 năm được tính, mỗi năm trực tiếp giảng dạy một học phần sau đại học.
"Tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, nhiều thầy chỉ tham gia hoạt động hướng dẫn nghiên cứu sinh. Trong quy định, chúng tôi vẫn tính giờ cho các thầy là 200 giờ chuẩn cho một nhiệm vụ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Trong thời gian đầu hướng dẫn nghiên cứu sinh thì cũng chỉ có giảng dạy khoảng một học phần, vậy thì có được phép quy đổi từ số giờ chuẩn này để chuyển sang học phần giảng dạy không hay là bắt buộc phải trực tiếp giảng dạy" - PGS.TS Hoàng Tùng nêu ý kiến.
Lưu ý đối với các ngành đặc thù
Qua điểm cầu trực tuyến, đại diện Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng đề nghị ban soạn thảo xem xét một số nội dung để phù hợp với đặc thù đào tạo trong các học viện, nhà trường trong lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Thứ nhất, về công nhận giờ giảng dạy cao cấp lý luận chính trị. Đề nghị bổ sung việc tính giờ tham gia giảng dạy cao cấp lý luận chính trị vào kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn khi xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Đây là hoạt động đào tạo đặc thù, có yêu cầu về chuyên môn học thuật và năng lực sư phạm tương đương đào tạo đại học, sau đại học.
Thứ hai, đề nghị cân nhắc không bắt buộc hội đồng phải có ít nhất 1/3 tổng số thành viên là giáo sư trong trường hợp cơ sở đào tạo không có ứng viên giáo sư, không thực hiện bổ nhiệm chức danh giáo sư trong năm đó. Đồng thời, cần linh hoạt hơn trong cơ cấu hội đồng, chú trọng năng lực chuyên môn và uy tín khoa học của thành viên, nhất là đối với các ngành, chuyên ngành đặc thù.
Thứ ba, về tỷ lệ thành viên ngoài cơ sở đào tạo trong hội đồng. Đề nghị quy định linh hoạt hơn đối với các học viện, nhà trường Quân đội do đặc thù chuyên ngành, nguồn chuyên gia và yêu cầu bảo vệ bí mật quân sự. Đề nghị có cơ chế đặc thù cho cơ sở đào tạo thuộc Bộ Quốc phòng, bảo đảm phù hợp với ngành, chuyên ngành và yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước.
Theo GS.TS Trần Huy Thịnh đến từ Trường Đại học Y Hà Nội, lĩnh vực Sức khỏe có những đóng góp lớn về nghiên cứu khoa học, đào tạo và phục vụ cộng đồng; chất lượng, tỷ lệ trích dẫn và sức ảnh hưởng của các công bố khoa học trong lĩnh vực này tương đương với khối ngành 1. Vì vậy, đề nghị ban soạn thảo cân nhắc xếp nhóm ngành Sức khỏe vào nhóm ngành 1 và nâng hệ số áp dụng tương ứng với nhóm ngành này.
Trong bối cảnh đã giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, cần tăng tỷ lệ thành viên thuộc cơ sở đào tạo trong hội đồng, đồng thời giảm tỷ lệ thành viên ngoài cơ sở từ mức tối thiểu 30% xuống 20%. Điều này vừa bảo đảm tính khách quan, vừa tăng quyền chủ động của cơ sở giáo dục đại học trong công tác bổ nhiệm.
GS.TS Trần Huy Thịnh đề nghị ban soạn thảo lượng hóa tối đa những nội dung có thể định lượng, hạn chế các quy định mang tính định tính. Khi có nhiều ứng viên cạnh tranh cho một vị trí, các tiêu chí không rõ ràng có thể dẫn đến khiếu nại, thắc mắc và gây khó khăn cho cơ sở giáo dục đại học trong quá trình triển khai.
Đại diện Đại học Đà Nẵng, GS.TS Bùi Văn Ga đề nghị không giới hạn ngoại ngữ trong một số ngôn ngữ cụ thể mà mở rộng theo yêu cầu công việc chuyên môn của từng ngành, lĩnh vực. Ngoài tiếng Anh, ứng viên có thể sử dụng các ngoại ngữ phù hợp với đặc thù chuyên môn.
Về thời hiệu tiếp nhận thông tin phản ánh, khiếu nại, tố cáo đối với ứng viên, GS.TS Bùi Văn Ga đề nghị ban soạn thảo quy định rõ thời hạn tiếp nhận trước thời điểm họp hội đồng để có đủ thời gian xem xét, xử lý, tránh ảnh hưởng đến quyền lợi của ứng viên và hoạt động của hội đồng.
Đại diện Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQG Hà Nội đề nghị ban soạn thảo xem xét công nhận các tạp chí quốc tế thuộc những bảng xếp hạng uy tín của các quốc gia, khu vực, không chỉ giới hạn ở danh mục Web of Science và Scopus. Một số ngành ngoại ngữ đặc thù có các tạp chí chuyên ngành được xếp hạng tại Trung Quốc, Nga và một số nước Châu Âu nhưng không thuộc hai hệ thống trên. Do đó, đề nghị nghiên cứu cơ chế xem xét, công nhận các tạp chí này làm căn cứ đánh giá công bố khoa học.