Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn
Theo Sở GD&ĐT Quảng Ninh, sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo, điện – điện tử, tự động hóa, logistics, du lịch – dịch vụ, kinh tế biển và chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực.
Doanh nghiệp không chỉ cần người lao động có kiến thức chuyên môn mà còn đòi hỏi kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật và khả năng thích ứng với công nghệ mới.
Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp theo hướng linh hoạt, thực chất, lấy chuẩn đầu ra và khả năng đáp ứng vị trí việc làm làm thước đo chất lượng. Thay vì chỉ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở giáo dục, chương trình cần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động, có sự tham gia xuyên suốt của doanh nghiệp.
Đối với Quảng Ninh, đây là hướng đi quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành kinh tế chủ lực, đồng thời nâng cao khả năng hội nhập của người lao động.
Cần tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận người học đến thực tập mà còn tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, hướng dẫn và đánh giá năng lực.
Mô hình đào tạo nghề theo định hướng 30% lý thuyết, 70% thực hành được xem là một hướng tiếp cận cần nghiên cứu, triển khai phù hợp với điều kiện thực tế.
Trọng tâm của mô hình không đơn thuần là phân chia thời gian học tập mà là giúp người học hình thành năng lực thực hiện công việc ngay trong quá trình đào tạo.
Theo định hướng này, nhà trường và doanh nghiệp cần phối hợp xây dựng chương trình trên cơ sở xác định rõ vị trí việc làm, yêu cầu năng lực, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng số, tác phong và thái độ nghề nghiệp.
Nội dung đào tạo phải gắn với quy trình sản xuất, công nghệ, thiết bị và tiêu chuẩn chất lượng mà doanh nghiệp đang áp dụng.
Chương trình cũng cần được rà soát, cập nhật định kỳ theo sự thay đổi của công nghệ và nhu cầu tuyển dụng.
Phản hồi từ doanh nghiệp sau mỗi khóa đào tạo là cơ sở quan trọng để điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy và chuẩn đầu ra, từng bước hình thành cơ chế doanh nghiệp đặt hàng, nhà trường tổ chức đào tạo, doanh nghiệp tham gia đánh giá và tuyển dụng.
Từ đào tạo tại trường đến thực tiễn doanh nghiệp
Ông Lưu Văn Minh, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Việt - Hàn Quảng Ninh cho biết, chương trình đào tạo của nhà trường ở hầu hết các nghề hiện được thiết kế khoảng 30% lý thuyết, 70% thực hành.
Tuy nhiên, phần thực hành chủ yếu được tổ chức tại các xưởng trường và phòng học chuyên môn.
Nhà trường dành kỳ học cuối cùng trong khóa học để tổ chức cho học sinh, sinh viên (HSSV) đi thực tập sản xuất, thực tập trải nghiệm, thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp với thời lượng từ 3-5 tháng, tùy trình độ và nghề đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo nghề nghiệp, hiện có 6 môn học lý thuyết bắt buộc gồm ngoại ngữ, tin học, nhận thức chính trị, pháp luật, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng.
Các nội dung đào tạo nghề nghiệp cơ bản còn lại được thiết kế dưới dạng mô - đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Theo ông Minh, bản chất dạy nghề là dạy thực hành. Việc kết hợp các mô - đun tích hợp với kỳ học cuối cùng thực tập tại doanh nghiệp nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng cho HSSV, qua đó đáp ứng mục tiêu đào tạo đặt ra.
Khi HSSV thực tập tại doanh nghiệp, nhà trường ký hợp đồng hoặc biên bản thỏa thuận với doanh nghiệp, trong đó làm rõ quyền lợi, trách nhiệm các bên, quyền lợi và nghĩa vụ của HSSV, kèm theo đề cương học tập, thực tập.
Nhà trường cử giáo viên quản lý đoàn thực tập và thực hiện các chế độ báo cáo để kiểm soát quá trình.
Trách nhiệm quản lý, theo dõi HSSV trong thời gian tại doanh nghiệp thuộc cả nhà trường và doanh nghiệp, với những quy định cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên.
Về an toàn lao động, ông Minh cho biết, nếu để mất an toàn lao động đối với HSSV thì doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật.