Theo PGS.TS Nguyễn Minh Phương, Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, để chính sách phát huy hiệu quả cao hơn trong giai đoạn 2026-2030, cần tăng cường phối hợp các chương trình, chuyển từ hỗ trợ an sinh sang đầu tư khơi thông nguồn lực phát triển nội tại và phát huy vai trò chủ thể của người dân.
- Thưa PGS.TS Nguyễn Minh Phương, nhìn từ quá trình triển khai các chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia, đâu là những kết quả nổi bật tại miền Trung - Tây Nguyên?
- Những năm qua, công tác dân tộc tại miền Trung - Tây Nguyên được triển khai trong sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 đã tạo thêm nguồn lực để giải quyết những vấn đề cấp thiết về hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo và đời sống người dân. Chương trình này được triển khai cùng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tạo nên nguồn lực tổng hợp cho phát triển vùng.
Qua gần 5 năm thực hiện, diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều chuyển biến. Đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, kết cấu hạ tầng từng bước hoàn thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm.
Đáng chú ý, đến tháng 6/2023 và ước đến cuối năm 2023, 14/17 tỉnh, thành phố trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên đạt và vượt chỉ tiêu giảm nghèo được Thủ tướng Chính phủ giao trong Chương trình 1719. Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số của 17 tỉnh bình quân đạt 3,81%, cao hơn mức trên 3% theo mục tiêu kế hoạch.
Tuy nhiên, kết quả giữa các địa phương chưa đồng đều. Một vấn đề cần lưu ý là sự chênh lệch về năng lực giải ngân nguồn vốn thực hiện Chương trình 1719. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, sinh kế chưa bền vững vẫn đặt ra ở một số địa bàn. Những hạn chế này cho thấy việc ban hành chính sách là điều kiện cần, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc lớn vào cách tổ chức thực hiện tại từng địa phương.
- Từ kết quả và những vấn đề đặt ra, theo ông, việc phối hợp các chương trình mục tiêu quốc gia cần được thực hiện như thế nào để nguồn lực đến đúng nhu cầu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi?
- Cần nhìn ba chương trình mục tiêu quốc gia trong một tổng thể phát triển. Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng nông thôn mới có mục tiêu riêng, nhưng cùng hướng tới cải thiện đời sống, nâng cao năng lực phát triển và tạo chuyển biến bền vững ở cơ sở.
Trên cùng một địa bàn, người dân có thể đồng thời gặp nhiều khó khăn: thiếu đất, thiếu vốn, thiếu việc làm, thiếu điều kiện tiếp cận thị trường. Vì vậy, nếu các chính sách thực hiện tách rời, nguồn lực khó tạo thành tác động đủ mạnh.
Cần xuất phát từ nhu cầu phát triển của từng địa bàn để kết nối các nguồn lực. Đầu tư hạ tầng phải gắn với sản xuất; đào tạo nghề phải gắn với việc làm; hỗ trợ sản xuất phải gắn với thị trường và chuỗi giá trị. Các nguồn vốn ưu đãi cần được mở rộng để người dân có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo sinh kế.
Miền Trung - Tây Nguyên có điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và đặc điểm văn hóa rất đa dạng. Vì vậy, chính sách sinh kế cần phù hợp từng vùng, từng cộng đồng. Có thể phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, tổ chức sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, gắn với đặc điểm văn hóa và lợi thế của từng địa phương.
Một yêu cầu quan trọng khác là đa dạng hóa, xã hội hóa nguồn lực. Nguồn lực Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nền tảng và huy động các nguồn lực khác tham gia. Mục tiêu không chỉ là hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trước mắt mà phải tạo điều kiện để họ có khả năng tự tạo thu nhập, nâng cao năng lực sản xuất và từng bước chủ động vươn lên.
- Bước vào giai đoạn 2026-2030, theo ông, cách thực hiện chính sách dân tộc và các chương trình mục tiêu quốc gia cần thay đổi theo hướng nào?
- Cần có sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trọng tâm không nên chỉ là hỗ trợ an sinh, mà phải chuyển sang đầu tư, khơi thông nguồn lực phát triển nội tại.
Điều này trước hết thể hiện ở việc tạo điều kiện để người dân có sinh kế ổn định, tiếp cận vốn, kiến thức, việc làm và thị trường. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số cần được quan tâm hơn. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phải được xem là giải pháp lâu dài để nâng cao chất lượng phát triển.
Đối với miền Trung - Tây Nguyên, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh kế và bảo vệ rừng. Người dân phải có điều kiện sống ổn định gắn với bảo vệ tài nguyên, nhất là tại những địa bàn có diện tích rừng lớn. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và các dịch vụ thiết yếu.
Phân cấp cho địa phương cần được đẩy mạnh để các tỉnh chủ động lựa chọn cách tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện của mình. Tuy nhiên, phân cấp phải đi cùng kiểm tra, giám sát và nâng cao trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Một yếu tố quan trọng khác là củng cố hệ thống chính trị cơ sở, chú trọng đào tạo, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Đây là lực lượng có điều kiện hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và nắm bắt nhu cầu của đồng bào.
Sau cùng, chính sách chỉ tạo được hiệu quả bền vững khi đồng bào các dân tộc thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Nhà nước cần tạo cơ chế, đầu tư nguồn lực và tháo gỡ điểm nghẽn; còn mục tiêu lâu dài là phát huy tinh thần tự lực, ý chí vươn lên và nguồn lực nội tại của chính cộng đồng. Đây là hướng quan trọng để chính sách dân tộc ở miền Trung - Tây Nguyên chuyển từ hỗ trợ sang phát triển bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
- Xin cảm ơn ông!