Công nghệ cần được phát triển thành sản phẩm có hiệu quả, an toàn
Chia sẻ tại Hội nghị “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường” khu vực phía Bắc - ngày 27/10, GS.TS Nguyễn Thị Lan – Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho hay, công nghệ sinh học thế hệ mới cho phép tác động ngày càng chính xác vào gen, tế bào và các hệ thống sinh học. Những hướng tiêu biểu gồm chỉnh sửa gen, sinh học tổng hợp, công nghệ protein, vắc-xin và hệ vi sinh vật, kết hợp với dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.
Các công nghệ này giúp tạo giống tốt hơn, kiểm soát dịch bệnh, sử dụng hiệu quả đầu vào và chuyển phụ phẩm thành sản phẩm có giá trị; qua đó nâng cao năng lực tự chủ về giống, sinh phẩm và sức cạnh tranh của ngành. Để trở thành động lực tăng trưởng, công nghệ cần được phát triển thành sản phẩm có hiệu quả, an toàn, giá thành phù hợp và đáp ứng nhu cầu thị trường.
GS.TS Nguyễn Thị Lan chia sẻ, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tiềm năng tạo nông sản giá trị cao từ công nghệ sinh học thế hệ mới. Nhật Bản đã thương mại hóa cà chua chỉnh sửa gen giàu GABA từ năm 2021.
Đại học Wageningen của Hà Lan hợp tác với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ hệ gen trong chọn giống; Đại học KU Leuven của Bỉ hỗ trợ sở hữu trí tuệ và phát triển doanh nghiệp spin-off. Bài học cho Việt Nam là gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường, kết nối doanh nghiệp từ đầu và đầu tư đến thương mại hóa.
Việt Nam đã có bước tiến về công nghệ sinh học thế hệ mới như công nghệ hệ gen, chỉnh sửa gen và sinh phẩm tiên tiến, nhưng ứng dụng chưa đồng đều; nhiều kết quả cần tiếp tục thử nghiệm, đánh giá an toàn và giảm giá thành.
Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển công nghệ sinh học thế hệ mới, có nguồn gen đa dạng, phụ phẩm phong phú và nhu cầu sản xuất mở ra cơ hội tạo giống tốt, kiểm soát dịch bệnh, tiết kiệm đầu vào và phát triển sản phẩm giá trị cao.
Để nâng cao thu nhập nông dân, nâng cao sức cạnh tranh doanh nghiệp, nguồn thu bản quyền, năng lực tự chủ và xuất khẩu, GS.TS Nguyễn Thị Lan lưu ý, cần chọn đúng bài toán, gắn kết 3 nhà (Quản lý- Khoa học- Doanh nghiệp) chặt chẽ hoàn thiện sản phẩm đến cùng.
Ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Từ thực tiễn Học viện Nông nghiệp Việt Nam, GS.TS Nguyễn Thị Lan chia sẻ về năng lực và một số kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới. Hiện, Học viện Nông nghiệp Việt Nam có trên 400 tiến sĩ, 46 nhóm nghiên cứu mạnh và 52 phòng thí nghiệm.
Trung tâm Nghiên cứu xuất sắc và Đổi mới sáng tạo có 20 phòng thí nghiệm trọng điểm, trong đó 07 phòng đạt chuẩn ISO, phân tích trên 1.000 chỉ tiêu về nông nghiệp, thực phẩm và môi trường.
Học viện tập trung nghiên cứu công nghệ gen, tế bào, vi sinh, protein, vắc-xin và sinh phẩm, gắn với bài toán về giống, dịch bệnh, chế biến và môi trường. Hợp tác quốc tế là nguồn lực quan trọng để giúp Học viện nâng năng lực chuyên gia, tiếp cận công nghệ tiên tiến; liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương giúp xác định nhu cầu, thử nghiệm, đào tạo và chuyển giao. Đây là nền tảng để triển khai nhiệm vụ liên ngành từ nghiên cứu đến thương mại hóa.
Chia sẻ về một số kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho biết, Học viện ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống; nghiên cứu chỉnh sửa gen Myostatin trên bò Mông theo hướng tăng cơ; phát triển vắc-xin, sinh phẩm chẩn đoán, kháng thể IgY và tổ hợp thực khuẩn thể nhằm kiểm soát dịch bệnh, giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh. Học viện cũng đang triển khai bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu vắc-xin dịch tả lợn châu Phi. Các công nghệ mới tiếp tục được hoàn thiện, đánh giá hiệu quả và an toàn.
Giai đoạn 2016–2026, Học viện có 10 bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích; 25 bằng bảo hộ giống cây trồng; 128 giống cây trồng được công nhận lưu hành và 42 tiến bộ kỹ thuật. Nhiều kết quả đã được chuyển giao như lợn Piétrain kháng stress, lai tạo bò thịt sử dụng giống bò BBB, khí canh sản xuất giống khoai tây sạch bệnh, chế phẩm EMINA, VNUA-Biomix và công nghệ nấm, vi tảo. Công nghệ khí canh đã được triển khai tại Indonesia, giống lúa CT16 tại Cuba. Học viện đã tích cực triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71 - NQ/TW của Bộ Chính trị đã hình thành các spin off, để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Học viện đã thành lập Công ty cổ phần Công nghệ sinh phẩm thú y VNUA, doanh thu từ các sản phẩm đạt khoảng 12 tỷ đồng mỗi năm; doanh nghiệp chi trả bản quyền cho Học viện bằng 5% doanh thu. Học viện đang phát triển danh mục chín doanh nghiệp spin-off, trong đó sáu doanh nghiệp đang làm thủ tục thành lập.
Thực tiễn cho thấy, thương mại hóa cần gắn hoàn thiện công nghệ với quyền khai thác rõ ràng, tổ chức sản xuất và đồng hành với bên tiếp nhận, tạo giá trị cho người sử dụng và tạo nguồn lực tái đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tháo điểm nghẽn
Đề cập đến một số điểm nghẽn và bài học từ thực tiễn Học viện, GS.TS Nguyễn Thị Lan trao đổi:
Thứ nhất, thiếu sự phối hợp xuyên suốt trong toàn chuỗi và thiếu đội ngũ dẫn dắt từ nghiên cứu đến thị trường. Các nhiệm vụ lớn cần đầu mối điều phối, chuyên gia làm chủ công nghệ lõi và doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu.
Trong khi đó, đội ngũ tư vấn lựa chọn công nghệ, kết nối nghiên cứu liên ngành, kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ thương mại hóa còn thiếu; nhà khoa học vẫn phải tự đảm nhiệm nhiều việc từ nghiên cứu đến tìm thị trường, đàm phán hợp đồng, dẫn đến hiệu quả thương mại hóa không cao.
Thứ hai, nguồn lực đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm đến quy mô sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu. Với vắc-xin, sinh phẩm và chế phẩm thực khuẩn thể, sau khi nghiên cứu cần tiếp tục kiểm chứng hiệu lực, an toàn, độ ổn định và giá thành mới có thể thương mại hóa được. Thiếu kinh phí sản xuất thử, tiêu chuẩn hóa và hoàn thiện hồ sơ khiến nhiều kết quả có triển vọng chưa đủ điều kiện để doanh nghiệp tiếp nhận.
Thứ ba, còn vướng mắc khi áp dụng quy định về tài sản trí tuệ và tài sản công vào từng hồ sơ. Mặc dù đã có nhiều quy định, nhiều hướng dẫn về định giá công nghệ góp vốn vào doanh nghiệp, nhưng các nhà khoa học vẫn còn chưa quen, chưa thành thạo trong việc xác định giá trị công nghệ; các nhà khoa học vẫn còn lúng túng trong việc chia sẻ, xác định giá trị đóng góp của công ty spin off trong việc sử dụng chung phòng thí nghiệm của các trường đại học, viện nghiên cứu. Cần hướng dẫn thống nhất, rõ thẩm quyền và trách nhiệm để các đơn vị triển khai thuận lợi, đúng quy định.
Để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất hiệu quả hơn, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đề xuất: Thứ nhất, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và đầu tư xuyên suốt đến khi sản phẩm có thể thương mại hóa. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia ngay từ khi xác định bài toán, cùng đầu tư, hoàn thiện sản phẩm và phát triển thị trường.
Chú trọng đánh giá năng lực làm chủ công nghệ, chất lượng sản phẩm và hiệu quả ứng dụng; hỗ trợ hoàn thiện, chuyển giao theo từng giai đoạn phù hợp với quy định. Nên đầu tư kinh phí thêm cho giai đoạn sau nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và nghiên cứu thị trường của sản phẩm nghiên cứu.
Thứ hai, hỗ trợ giải quyết những vướng mắc trong triển khai doanh nghiệp spin-off. Đề nghị các cơ quan liên quan phối hợp hướng dẫn, tập huấn việc định giá công nghệ, góp vốn và khai thác tài sản trí tuệ, sử dụng phòng thí nghiệm, thiết bị cho các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu. Trước mắt, có thể lựa chọn một số hồ sơ, mô hình cụ thể của Học viện để hướng dẫn thực hiện, từ đó chia sẻ kinh nghiệm với các viện, trường.
Thứ ba, phát triển đội ngũ dẫn dắt nghiên cứu và thương mại hóa. Kính đề nghị Bộ, chính phủ sớm xem xét, phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tạo đột phá khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; trong đó ưu tiên chuyên gia đầu ngành, trưởng nhóm làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; chuyên gia quản lý khoa học, chuyên gia tư vấn công nghệ, xây dựng chính sách và phát triển thị trường.
Đào tạo cần gắn với nhiệm vụ cụ thể, kết hợp hợp tác quốc tế; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện, trường và doanh nghiệp; cần có cơ chế chính sách và chế tài đủ mạnh, đủ hấp dẫn để gắn kết chặt chẽ 3 nhà (nhà khoa học, nhà quản lý và nhà doanh nghiệp).
Cần có cơ quan đầu mối để gắn kết, kết nối giữa nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, làm trọng tài cho việc hợp tác phối hợp, phân chia bản quyền công nghệ và phân chia lợi nhuận giữa doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu.
Thứ tư, đầu tư hạ tầng gắn với hiệu quả khai thác, sử dụng chung. Kính đề nghị Bộ quan tâm sớm bố trí vốn cho các dự án đầu tư công thực hiện Nghị quyết 57 đã đủ điều kiện triển khai để nâng cao năng lực nghiên cứu, bổ sung phòng thí nghiệm, trang thiết bị còn thiếu cho các cơ sở nghiên cứu.
Trường học có đủ năng lực để giải quyết các bài toán liên quan công nghệ mới. Đề nghị đầu tư phòng thí nghiệm tham chiếu/ phòng thí nghiệm trọng điểm về chất lượng và an toàn thực phẩm, chẩn đoán dịch bệnh đạt tiêu chuẩn quốc tế đặt tại các trường đại học để nâng cao năng lực hệ thống Phòng thí nghiệm của ngành đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất nhập khẩu.
GS.TS Nguyễn Thị Lan khẳng định, Học viện Nông nghiệp Việt Nam sẽ chủ động hoàn thiện quản trị nội bộ, sử dụng hiệu quả nguồn lực đã được đầu tư, lựa chọn công nghệ có triển vọng và bố trí đội ngũ đồng hành cùng doanh nghiệp, địa phương. “Chúng tôi xác định trách nhiệm của Học viện là gắn nghiên cứu với ứng dụng, lấy hiệu quả sản xuất, khả năng thương mại hóa và lợi ích của người dân làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện” – GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh.