Kế thừa, kết nối các kết quả nghiên cứu
Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Quang Hưng trao đổi ba nội dung trọng tâm, gồm kế thừa và kết nối các kết quả nghiên cứu để phát triển tri thức khoa học giáo dục Việt Nam; làm rõ phạm vi và điều kiện áp dụng của kết quả nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam; khai thác các nền tảng quốc gia dùng chung để mở rộng hợp tác và kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, từ các công trình được chia sẻ tại Hội thảo, cần làm rõ những kết luận đã có cơ sở vững chắc, những điểm còn khác biệt và câu hỏi cần nghiên cứu tiếp. Việc tổng hợp, đối chiếu các kết quả sẽ giúp hình thành hiểu biết có hệ thống và sâu sắc hơn về giáo dục Việt Nam.
“Chương trình khoa học giáo dục quốc gia cần thúc đẩy sự tiếp nối từ nghiên cứu nền tảng đến kiểm chứng giải pháp và dự báo dài hạn, chú trọng trí tuệ nhân tạo và tương lai giáo dục”, Thứ trưởng Phạm Quang Hưng lưu ý.
Để thực hiện định hướng này, theo Thứ trưởng, các trường sư phạm, viện nghiên cứu cần phối hợp phát triển các nhóm nghiên cứu liên ngành, kết nối khoa học giáo dục với khoa học nhận thức, tâm lý học, khoa học dữ liệu và công nghệ.
“Bộ rất cần kết quả nghiên cứu và ý kiến phản biện để các vụ, cục có thêm luận cứ khoa học trong tham mưu chính sách. Vì vậy, Bộ mong các viện, trường, đưa những vấn đề từ thực tiễn vào nghiên cứu, đồng thời kiểm chứng các kết quả trước khi vận dụng vào chính sách và thực tiễn giáo dục”, Thứ trưởng Phạm Quang Hưng nhấn mạnh.
Với nghiên cứu về công nghệ giáo dục, Thứ trưởng lưu ý mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực người học phải định hướng việc thiết kế, lựa chọn và sử dụng công nghệ. Các kết quả nghiên cứu cần được xem xét trong mối liên hệ với người học, chương trình, ngôn ngữ, văn hóa và điều kiện nhà trường.
Kinh nghiệm quốc tế cần được kiểm chứng trong thực tiễn Việt Nam, nhất là ở địa bàn khó khăn và với người học dân tộc thiểu số. OECD lưu ý, làm bài tốt hơn nhờ trí tuệ nhân tạo chưa chắc phản ánh tiến bộ học tập; UNESCO khuyến nghị đánh giá công nghệ theo bối cảnh, bằng chứng, tính công bằng và khả năng duy trì.
“Vì vậy, nghiên cứu cần trả lời rõ: trong những điều kiện nào công nghệ thực sự giúp người học nâng cao năng lực tự học, tư duy độc lập và khả năng vận dụng; kết quả đó có được duy trì khi giảm hỗ trợ của công nghệ hay không”, Thứ trưởng gợi mở.
Trước khi mở rộng áp dụng, cần đánh giá đầy đủ chi phí, khả năng tiếp cận, an toàn và cơ chế giám sát của con người. Các kết quả nghiên cứu phải được chuyển hóa vào đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, nhất là năng lực thiết kế hoạt động học tập và đánh giá người học trong môi trường có sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Kết nối nghiên cứu với chính sách và thực tiễn
Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, Bộ GD&ĐT ưu tiên xây dựng nền tảng dùng chung, tập trung nguồn lực, tránh đầu tư trùng lặp. Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia đang được xây dựng với gia sư trí tuệ nhân tạo và hệ thống thực ảo là hai thành phần cốt lõi, hỗ trợ người học tự học và thực hành.
Bộ mong các viện, trường cùng doanh nghiệp tham gia xác lập yêu cầu giáo dục và thử nghiệm các giải pháp, bảo đảm minh bạch, an toàn và có đánh giá độc lập. Kết quả nghiên cứu cần góp phần hoàn thiện các nguyên tắc, tiêu chí đánh giá công nghệ giáo dục, đồng thời giải quyết những vấn đề nảy sinh khi xây dựng, vận hành các nền tảng.
Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT đang hoàn thiện nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Theo Thứ trưởng, nguồn dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên sẽ cung cấp căn cứ thực tiễn để các nhà khoa học phân tích, nhận diện vấn đề và kiểm chứng các nhận định.
Hội thảo năm nay tiếp nhận 317 bài tham luận của các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên và chuyên gia thực tiễn đến từ hơn 120 cơ sở giáo dục đại học, học viện, trường cao đẳng, viện nghiên cứu cùng nhiều đơn vị giáo dục thuộc trên 20 tỉnh, thành phố. Sau phản biện và biên tập, 225 bài được lựa chọn đưa vào kỷ yếu, trong đó gần 190 bài tập trung vào AI và giáo dục trong môi trường số.
PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm - ĐH Đà Nẵng, cho rằng việc đăng cai Hội thảo là trách nhiệm của một trường đại học sư phạm trước những vấn đề lớn của giáo dục đất nước; đồng thời là trách nhiệm của một cơ sở giáo dục đại học ở miền Trung trong việc kết nối các nguồn lực tri thức của khu vực với cả nước.
Theo ông Minh, Hội thảo là không gian để “kết nối trí tuệ”, kết nối những câu hỏi, phương pháp nghiên cứu, nhóm nghiên cứu, khoa học với chính sách và “khát vọng đổi mới giáo dục với những hành động cụ thể”.
Các phiên tọa đàm tập trung trao đổi về các vấn đề chiến lược như hoàn thiện thể chế, chính sách giáo dục; đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; quản trị trường học; phát triển các nền tảng công nghệ giáo dục thông minh; hệ sinh thái EdTech; dữ liệu, đạo đức và quản trị AI trong giáo dục.
Tại phiên toàn thể, các chuyên gia đầu ngành sẽ trình bày báo cáo trọng tâm về khoa học học tập và đổi mới dạy học trong môi trường số; đánh giá, dữ liệu và quản trị chất lượng giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số; khoa học giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên AI, quản trị có trách nhiệm và chính sách phát triển. Các nội dung này được xem là những vấn đề then chốt đặt nền tảng cho quá trình đổi mới giáo dục trong thời gian tới.
Ba tiểu ban chuyên đề của Hội thảo sẽ tập trung thảo luận sâu về: Khoa học nhận thức và khoa học học tập trong kỷ nguyên AI; Công nghệ giáo dục và đổi mới dạy học; Đánh giá giáo dục, dữ liệu học tập và quản trị giáo dục. Đây là những lĩnh vực đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý trong tiến trình chuyển đổi số giáo dục.
Một trong những kết quả quan trọng được kỳ vọng từ Hội thảo là dự thảo “Khuyến nghị Đà Nẵng 2026”. Văn bản này được xây dựng trên cơ sở các ý kiến thảo luận, tham luận khoa học và định hướng của lãnh đạo Bộ GD&ĐT nhằm đề xuất các ưu tiên nghiên cứu khoa học giáo dục đến năm 2035; phát triển năng lực nghiên cứu, dữ liệu và công nghệ giáo dục; tăng cường kết nối giữa nhà khoa học, cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giáo dục và hoạch định chính sách