Theo đó, từ năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo.
Lựa chọn cách đánh giá phù hợp nhất
Trao đổi về đề xuất trên, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo – Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho hay, ở cấp cơ sở đào tạo, dự thảo vẫn quy định sử dụng tối đa 5 phương thức. Đây là lộ trình để mỗi ngành lựa chọn cách đánh giá phù hợp nhất, không phải chủ trương bắt mọi trường, mọi ngành trên cả nước cùng sử dụng một kết quả duy nhất.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo viện dẫn, thực tế giai đoạn 2022-2026 cho thấy, chỉ 36,4% tổng số lượt chương trình đào tạo có căn cứ đối chiếu chính thức. Điểm học bạ trong cùng mã ngành cao hơn khá xa so với điểm thi tốt nghiệp THPT; trên 2.000 chương trình đào tạo có mức chênh giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên.
Khi các thang đo chưa thực sự tương đương, việc một ngành có nhiều cửa xét tuyển có thể dẫn đến tình trạng thí sinh cùng năng lực nhưng được đánh giá khác nhau. Vì vậy, giảm phương thức là để mở rộng cơ hội bình đẳng, không phải giảm cơ hội tiếp cận. Mỗi phương thức phải bảo đảm mọi thí sinh đủ điều kiện đều có thể tham gia, công bố rõ tiêu chí và sử dụng một thang điểm chung.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, cơ sở đào tạo có trách nhiệm lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào của chương trình. Kết quả thi riêng, học bạ hoặc chứng chỉ vẫn có thể được sử dụng khi được cấu trúc minh bạch trong phương thức đã công bố.
Tại tọa đàm góp ý sửa đổi một số quy định trong tuyển sinh đại học do Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) tổ chức, đại diện một số trường đại học cho rằng, việc giảm số lượng phương thức tuyển sinh đối với từng ngành, chương trình đào tạo là hợp lý. Qua đó, góp phần hạn chế tình trạng sử dụng quá nhiều phương thức, qua đó kiểm soát tốt hơn chất lượng đầu vào và bảo đảm công bằng cho thí sinh.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến băn khoăn về việc áp dụng 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo. PGS.TS Nguyễn Thị Hòa - Trưởng phòng Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Giao thông vận tải lo ngại, nếu chỉ còn 1 phương thức/ngành không chỉ thí sinh rủi ro, mà các trường cũng có thể gặp “bất trắc”. “Vì thế, Bộ GD&ĐT có thể siết nhưng mỗi ngành nên có 2 phương thức để thí sinh được lựa chọn” - PGS.TS Nguyễn Thị Hòa đề xuất.
Cần có ít nhất 2 phương thức xét tuyển cho mỗi ngành/chương trình đào tạo, là quan điểm của đại diện Phòng Quản lý Đào tạo, Cục Quân Huấn nhà trường, Bộ tổng tham mưu. Việc này nhằm tăng tính linh hoạt, mở rộng cơ hội cho thí sinh và giúp các trường lựa chọn được nguồn tuyển phù hợp.
Gia tăng công bằng trong cơ hội trúng tuyển
Chủ trương thu gọn số phương thức tuyển sinh không chỉ là nhiều hay ít phương thức. PGS.TS Lê Hiếu Học - Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ Giáo dục (Đại học Bách khoa Hà Nội) – cho rằng, nếu cùng một ngành tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực và các hình thức kết hợp khác nhưng không chứng minh được các thang điểm có thể đối sánh hợp lý, thì rõ ràng có vấn đề về công bằng và chất lượng.
“Vấn đề nằm ở chỗ có quá nhiều phương thức, hay là chất lượng và khả năng đối sánh giữa các phương thức chưa được chứng minh đầy đủ?” - PGS.TS Lê Hiếu Học nêu ý kiến và cho rằng, một chương trình có nhiều phương thức chưa chắc tuyển sinh kém hơn chương trình chỉ có một phương thức.
Ngược lại, một phương thức duy nhất cũng chưa chắc đánh giá đầy đủ những năng lực cần thiết. Điều quan trọng hơn là phương thức đó đánh giá năng lực gì; năng lực ấy có liên quan đến khả năng học thành công trong chương trình hay không; kết quả có đủ tin cậy không; và sinh viên được tuyển từ các nguồn khác nhau sau khi nhập học có kết quả thế nào.
Theo PGS.TS Lê Hiếu Học, Bộ GD&ĐT cần đặt ra các nguyên tắc chung, chuẩn tối thiểu và yêu cầu về công bằng, minh bạch, chất lượng. Điều này càng quan trọng khi nhìn tuyển sinh từ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các ngành Kỹ thuật - Công nghệ, Y khoa, Khoa học Giáo dục, Ngoại ngữ, Nghệ thuật, Tâm lý học hay Kinh tế - Quản trị không nhất thiết cần cùng một cấu hình năng lực đầu vào. Tuyển sinh vì thế không chỉ là phân phối chỗ học, mà còn là quá trình nhận diện và lựa chọn người học phù hợp để tiếp tục đào tạo thành nguồn nhân lực mà xã hội cần.
PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng, vai trò của Bộ GD&ĐT trong tuyển sinh cần tập trung vào ba vấn đề lớn. Thứ nhất, bảo đảm công bằng, nhưng không chỉ ở khâu xét tuyển mà còn trong cơ hội học tập. Thứ hai, bảo đảm chất lượng tuyển sinh, nhưng không chỉ bằng cách giới hạn số phương thức mà bằng việc yêu cầu các phương thức phải thực sự đánh giá đúng năng lực. Thứ ba, tạo khuôn khổ để các trường lựa chọn được người học phù hợp, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định tuyển sinh của mình.
Theo dữ liệu do Bộ theo dõi từ năm 2022 đến 2026 chỉ ra hơn 40% chương trình đào tạo (tương đương trên 2.000 ngành) có khoảng cách điểm chuẩn giữa các phương thức xét tuyển vênh nhau từ 3 điểm trở lên. Đáng chú ý, điểm xét theo hồ sơ học tập ở bậc phổ thông ghi nhận mức chênh lệch áp đảo so với kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông trong cùng một mã ngành.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo khẳng định, kế hoạch tinh gọn phương thức theo từng giai đoạn là để mỗi ngành tìm được công cụ sàng lọc sát hợp nhất với mục tiêu đào tạo, chứ không đồng nghĩa với việc áp đặt tất cả các trường đại học phải dùng chung một dạng thức thi cử.
Quy định này hướng đến mục tiêu gia tăng công bằng trong cơ hội trúng tuyển thay vì thu hẹp đường vào đại học. Mỗi phương thức cần đảm bảo người học có đủ điều kiện đều bình đẳng tham gia dự tuyển, đi kèm tiêu chuẩn công khai và quy chuẩn trên một hệ thống tính điểm thống nhất.
Quyền quyết định phương thức tuyển sinh gắn liền với chuẩn đầu vào thuộc về các cơ sở giáo dục. Những nguồn điểm từ bài thi đánh giá năng lực, học bạ hay chứng chỉ quốc tế vẫn tiếp tục được công nhận nếu được thiết kế một cách minh bạch, bài bản trong phương thức chung đã ban hành.
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, Vụ Giáo dục đại học sẽ tổng hợp toàn bộ các phản hồi để trình lên lãnh đạo Bộ GD&ĐT xem xét. Tuy nhiên, sẽ khó tạo lập sự công bằng tuyệt đối nếu một ngành xét tuyển áp dụng song song nhiều con đường tiếp cận khác nhau.