Chuẩn bị năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm

GD&TĐ - Đào tạo giáo viên cần tăng cường kết nối với trường phổ thông, giúp sinh viên rèn luyện nghiệp vụ và khả năng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng kiến tập tại Trường Mầm non Bình Minh (phường Hải Châu, TP Đà Nẵng).
Sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng kiến tập tại Trường Mầm non Bình Minh (phường Hải Châu, TP Đà Nẵng).

Thu hẹp khoảng cách giữa giảng đường và lớp học

Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, Dương Khánh Huyền, sinh viên lớp 23ST2, ngành Sư phạm Toán học, được tiếp cận với nhiều học phần gắn trực tiếp với hoạt động nghề nghiệp như Giao tiếp sư phạm, Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục, Thực hành dạy học môn Toán. Qua những học phần này, sinh viên tiếp cận các phương pháp dạy học, cách thức tổ chức, xây dựng và triển khai hoạt động giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh.

Theo Khánh Huyền, sinh viên sư phạm cần chủ động cập nhật công nghệ, đổi mới phương pháp dạy học và phát triển năng lực để đáp ứng yêu cầu của học sinh trong thời đại mới.

887844101-2150206572553474-340986604631840098-n.jpg
Sinh viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng trong giờ thực hành tại phòng thí nghiệm. Ảnh: Thế Hưng.

Tuy nhiên, việc chuẩn bị cho nghề giáo của sinh viên sư phạm không chỉ nằm ở khối lượng kiến thức chuyên ngành. Người học cần từng bước hình dung công việc của giáo viên, hiểu cách vận hành một lớp học và biết vận dụng những điều đã học vào tình huống cụ thể. Đây là khoảng cách mà chương trình đào tạo cần có cách thức thu hẹp, thay vì chỉ trông chờ vào đợt thực tập cuối khóa.

TS Võ Thị Bảy, Trưởng khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng cho rằng, một trong những khó khăn của sinh viên là chuyển hóa kiến thức đã học thành năng lực tổ chức dạy học. Người học có thể nắm nội dung bài học nhưng khi đứng trước lớp lại lúng túng trong việc xác định trọng tâm, xây dựng câu hỏi gợi mở hay tổ chức hoạt động để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức.

Theo TS Võ Thị Bảy, để khắc phục hạn chế này, cần tăng cơ hội thực hành cho sinh viên ngay trong quá trình đào tạo. Có thể xây dựng các phòng học mô phỏng dành cho đào tạo giáo viên mầm non và tiểu học. Qua đó, sinh viên được luyện tập các tình huống nghề nghiệp trong môi trường có sự hướng dẫn, góp ý của giảng viên trước khi bước vào lớp học thực tế.

Điều quan trọng là thực hành không nên chỉ được xem như một học phần riêng lẻ hay đợt trải nghiệm ngắn hạn. Sau mỗi lần tập giảng, tổ chức hoạt động giáo dục, sinh viên cần được phân tích những điểm đã làm được, hạn chế trong cách xử lý tình huống và tìm hướng điều chỉnh. Quá trình luyện tập, nhận xét và hoàn thiện cần được lặp lại, giúp người học hình thành kỹ năng nghề nghiệp từng bước.

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã xây dựng mạng lưới 81 cơ sở giáo dục đối tác, từ mầm non đến THPT, phục vụ hoạt động quan sát, kiến tập và thực tập sư phạm. Tổng thời lượng dành cho các hoạt động này là 6 tín chỉ, tương đương khoảng 13 tuần.

PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết: “Chúng tôi không chờ đến năm cuối mới đưa sinh viên đến trường học. Sinh viên được tiếp cận nghề nghiệp theo lộ trình sớm - thường xuyên - tăng dần, từ quan sát, trải nghiệm đến kiến tập, thực hành và thực tập sư phạm”.

Cách tiếp cận này đặt hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp vào nhiều giai đoạn của chương trình đào tạo. Sinh viên có cơ hội quan sát môi trường làm việc của giáo viên từ sớm, tiếp xúc với học sinh và tìm hiểu hoạt động giáo dục tại trường phổ thông trước khi đảm nhận những nhiệm vụ đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao hơn.

833790632-4059092474227685-5126818526553652193-n.jpg
Ban giám hiệu Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu trao giấy chứng nhận hoàn thành kỳ kiến tập cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Bà Huỳnh Thị Thu Nguyệt - Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu (TP Đà Nẵng) cho rằng, sinh viên sư phạm nên được kiến tập tại các cơ sở giáo dục từ năm thứ hai. Ngoài ra, cần tăng thời lượng kiến tập ở năm thứ hai và thứ ba, tạo điều kiện để sinh viên có quá trình tiếp xúc với trường phổ thông liên tục hơn trước khi bước vào đợt thực tập cuối khóa.

Theo định hướng của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, quan hệ giữa cơ sở đào tạo giáo viên và các trường phổ thông cần tiến xa hơn việc tiếp nhận sinh viên đến kiến tập, thực tập. Các trường phổ thông có thể tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ hỗ trợ sinh viên làm quen với công việc của giáo viên đến phối hợp tổ chức hoạt động giáo dục và nghiên cứu.

Phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu mới

Bên cạnh kỹ năng đứng lớp, chương trình đào tạo giáo viên cần quan tâm đến những năng lực giúp người học chủ động trước các tình huống và yêu cầu mới của nghề nghiệp. PGS.TS Phạm Quý Mười, Trưởng bộ môn Toán - Tin, nhấn mạnh vai trò của tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề, nghiên cứu và khả năng thích ứng. Theo ông, sinh viên cần biết vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động dạy học, thay vì chỉ dừng ở việc tiếp nhận và ghi nhớ nội dung môn học.

Yêu cầu này càng rõ khi công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tác động đến cách thiết kế bài giảng, tổ chức hoạt động học tập và kiểm tra, đánh giá. Giáo viên tương lai cần biết khai thác công cụ mới để hỗ trợ công việc, đồng thời giữ vai trò chủ động trong lựa chọn nội dung và phương pháp phù hợp với học sinh.

833883700-1130230972994141-198991778741258928-n.jpg
Giáo sinh Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng kiến tập tại Trường Tiểu học Phù Dổng (phường Hải Châu, TP Đà Nẵng).

Còn theo ThS Lê Vũ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng, các công cụ như ChatGPT, Gemini, Claude có thể hỗ trợ giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy, soạn câu hỏi và bài tập. Canva giúp thiết kế học liệu trực quan; các nền tảng trực tuyến hỗ trợ tổ chức kiểm tra, đánh giá.

Tuy nhiên, việc sử dụng những công cụ này đòi hỏi người dạy có khả năng kiểm chứng thông tin, lựa chọn công cụ phù hợp với mục tiêu bài học. Các vấn đề về bảo mật dữ liệu, bản quyền, tính trung thực trong học thuật và đạo đức khi sử dụng trí tuệ nhân tạo cần được đặt ra trong quá trình đào tạo.

Đưa công nghệ vào chương trình không đơn thuần là hướng dẫn sinh viên sử dụng một số phần mềm hay nền tảng. Sinh viên sư phạm cần được hình thành năng lực lựa chọn, đánh giá và sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Một bài giảng được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo chỉ thực sự có giá trị khi giáo viên hiểu rõ mục tiêu, nội dung và đặc điểm người học để quyết định cách tổ chức hoạt động.

Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng cho rằng, sinh viên hiện nay có lợi thế về khả năng tiếp cận ngoại ngữ, công nghệ số và AI. Tuy nhiên, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, tranh luận, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vẫn là những năng lực cần tiếp tục bồi dưỡng. Đây là những yếu tố giúp giáo viên tương lai không rập khuôn theo tài liệu có sẵn mà biết lựa chọn cách dạy phù hợp với từng học sinh.

AI có thể hỗ trợ thiết kế bài học, tiếp cận tri thức và cá nhân hóa việc học, nhưng không thể thay thế phán đoán sư phạm, trách nhiệm nghề nghiệp hay sự thấu hiểu học sinh của người thầy.

PGS.TS Võ Văn Minh cho biết, nhà trường đã đầu tư các điều kiện phục vụ đào tạo như thiết bị STEM, studio, phòng học vi giảng và các phòng thực hành. Đây là không gian để sinh viên rèn luyện kỹ năng, thử nghiệm phương pháp và tiếp cận các hình thức tổ chức dạy học khác nhau.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ