back

Báo Giáo dục và Thời đại Online E-magazine
Bài 1: Những ‘khoảng trống’ cần được lấp đầy

Cao Bằng hiện thực hóa Nghị quyết 71 về giáo dục

Bài 1: Những ‘khoảng trống’ cần được lấp đầy

GD&TĐ - Từ tháo gỡ điểm nghẽn đến kiến tạo tương lai, Cao Bằng đang từng bước hiện thực hóa Nghị quyết 71, tạo động lực mới cho giáo dục vùng biên.

Địa hình chia cắt, nguồn lực hạn chế, mạng lưới trường lớp phân tán và thiếu đồng bộ khiến giáo dục Cao Bằng trước Nghị quyết 71 có những bài toán không thể giải bằng một vài giải pháp đơn lẻ.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-2-8899.jpg

Hiện nay, ở nhiều bản làng xa xôi của Cao Bằng, chuyện học sinh ngủ lại trường không còn là điều đặc biệt.

Tại những điểm trường vùng biên, nơi đường đến trường có khi là những cung đường núi đá hiểm trở, học sinh ở xa nhà phải mang theo quần áo, sách vở đến trường từ đầu tuần, cuối tuần mới trở về. Có những lớp học ban ngày là nơi học tập, tối đến trở thành chỗ ngủ của học sinh. Thầy cô giáo, vốn chỉ làm nhiệm vụ giảng dạy, lại kiêm thêm việc nấu ăn, chăm sóc, trông nom học sinh.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-dn.jpg
Nhiều trường học bán trú ở Cao Bằng trở thành trường học "nội trú".

Câu chuyện ở Điểm trường Chè Lỳ A, thuộc Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Đức Hạnh (trước sáp nhập), là một lát cắt như vậy.

Những năm trước, nhiều học sinh phải ở lại trường bởi từ nhà đến trường chính quá xa, đường núi hiểm trở. Có em từ lớp 1 đã bắt đầu cuộc sống xa gia đình. Các thầy cô giáo trở thành những người chăm sóc các em từ bữa ăn, giấc ngủ đến khi ốm đau.

Ở Trường Phổ thông bán trú Tiểu học và THCS Thượng Hà (trước sáp nhập), xã Cô Ba, tỉnh Cao Bằng, từng có hơn 200 học sinh phải ngủ lại trường mỗi tối trong tổng số 790 học sinh. Những con số ấy cho thấy một nghịch lý: Trường mang tên “bán trú”, nhưng trong thực tế, một bộ phận học sinh đã sống cuộc sống của học sinh nội trú.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-8.jpg

Đó không chỉ là câu chuyện thiếu một khu ký túc xá hay một phòng học. Đằng sau những đứa trẻ phải ở lại trường là bài toán lớn hơn về địa lý, giao thông, dân cư phân tán, điều kiện kinh tế và khả năng đầu tư cho giáo dục.

Ông Ma Thế Hiếu, Chủ tịch UBND xã Cô Ba tâm sự: Khi khoảng cách từ nhà đến trường được đo bằng những con dốc, con suối và nhiều giờ đi bộ, thì “quyền được học” không còn đơn giản là có một lớp học gần nhà. Và trong điều kiện ấy, những người thầy cũng phải gánh thêm một phần trách nhiệm vốn thuộc về gia đình.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-3-5164.jpg

Cao Bằng có trên 333km đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc, hơn 95% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Địa hình chủ yếu là núi cao, chia cắt phức tạp; điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, giao thông tại nhiều vùng sâu, vùng xa hạn chế.

Đặc thù ấy tạo nên một bài toán giáo dục khác biệt. Trước khi thực hiện việc sắp xếp mới, toàn tỉnh có 516 trường và tới 662 điểm trường. Hệ thống chuyên biệt có 70 trường, gồm trường phổ thông dân tộc nội trú, trường chuyên và các trường phổ thông dân tộc bán trú. Tổng số trẻ em, học sinh, sinh viên là 138.871 em.

Mạng lưới rộng là điều kiện để đưa giáo dục đến gần dân, nhưng đồng thời cũng tạo áp lực rất lớn về nguồn lực.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-9.jpg
Cao Bằng có nhiều điểm trường.

Mỗi điểm trường là một lớp học cần giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và kinh phí duy trì. Với địa hình Cao Bằng, chi phí để bảo đảm một học sinh được học tập đầy đủ và an toàn vì thế cao hơn nhiều so với những địa bàn thuận lợi.

Đó là lý do bài toán của Cao Bằng không thể chỉ là “có trường hay chưa”, mà phải là trường ở đâu, quy mô thế nào, học sinh đi học bằng cách nào và chất lượng giáo dục được bảo đảm ra sao.

Những năm qua, Cao Bằng đã dành nhiều nguồn lực cho giáo dục. Đội ngũ cơ bản bảo đảm về cơ cấu, độ tuổi và trình độ; tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn theo Luật Giáo dục ở các cấp học khá cao. Tuy nhiên, những kết quả ấy chưa đủ để khỏa lấp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng.

Cơ sở vật chất vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn. Theo số liệu trong báo cáo của ngành, toàn tỉnh còn thiếu 277 phòng học, 318 phòng công vụ và 221 phòng ký túc xá; nhu cầu vốn đầu tư cho các hạng mục này lên tới hơn 3.500 tỷ đồng. Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số cũng còn thiếu: 440 phòng học trực tuyến, hơn 350 phòng STEM và hơn 500 phòng máy tính.

Nhưng thiếu cơ sở vật chất mới chỉ là một phần của câu chuyện. Hơn 7.000 trẻ vẫn phải đi học xa, qua những khu vực có nguy cơ sạt lở, địa hình chia cắt. Một số địa bàn có quá nhiều điểm trường; trong khi một số nơi chưa có trường nội trú, bán trú hoặc có nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu.

Chất lượng giáo dục vì thế chịu tác động trực tiếp từ điều kiện địa lý và mạng lưới trường lớp.

Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia mới ở mức 38,42%, với 194/505 trường. Đây là con số cho thấy khoảng cách rất lớn về điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục so với yêu cầu phát triển mới.

Ở một số môn học, tình trạng thiếu giáo viên cục bộ vẫn tồn tại, nhất là Tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật. Trong khi đó, chất lượng đầu vào lớp 10 nhiều năm còn thấp, với điểm trung bình tuyển sinh chỉ khoảng 4,8 điểm.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-10.jpg
Trường Tiểu học Bạch Đằng (trước sáp nhập) khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng giảng dạy.

Như câu chuyện của bà Triệu Thu Nguyệt, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bạch Đằng (trước sáp nhập), xã Bạch Đằng, tỉnh Cao Bằng, chia sẻ khi bước vào năm học 2025-2026: Nhà trường năm học 2025-2026 thiếu giáo viên môn Tin học nên phải báo cáo với lãnh đạo xã Bạch Đằng để tăng cường giáo viên Tin học của trường khác về dạy.

Những con số ấy không phải để phủ nhận những nỗ lực của Cao Bằng trong nhiều năm qua. Ngược lại, chúng cho thấy một điều quan trọng: giáo dục Cao Bằng đã đi được một chặng đường dài, nhưng điểm xuất phát và điều kiện phát triển của tỉnh có những khác biệt rất lớn so với nhiều địa phương khác.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-5.jpg

Nhìn từ Cao Bằng, đổi mới giáo dục không thể chỉ bắt đầu từ chương trình, sách giáo khoa hay phương pháp dạy học.

Muốn nâng chất lượng, trước hết phải giải quyết điều kiện để học sinh có thể đến trường, ở lại trường và học tập trong môi trường đủ an toàn, đủ thiết bị. Muốn nâng chất lượng đội ngũ, phải giải quyết bài toán thu hút, giữ chân giáo viên ở những nơi xa xôi, giao thông khó khăn. Muốn chuyển đổi số, phải có hạ tầng số. Muốn phát triển STEM, phải có phòng học, thiết bị và giáo viên được đào tạo.

Đó cũng là lý do bài toán sắp xếp mạng lưới trường lớp ở Cao Bằng mang ý nghĩa lớn hơn một cuộc sắp xếp hành chính.

Tinh gọn không đồng nghĩa với cơ học giảm trường, giảm điểm trường. Ngành Giáo dục Cao Bằng xác định việc sắp xếp phải dựa trên quy mô học sinh, số lớp, đội ngũ, cơ sở vật chất, khoảng cách đi lại, giao thông và đặc điểm dân cư; mục tiêu là giảm đầu mối nhưng không làm giảm cơ hội học tập.

Đây chính là điểm giao giữa bài toán thực tiễn của Cao Bằng và tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW.

1-cao-bang-nghi-quyet-71-11.jpg
Các thầy, cô giáo Trường THPT Nguyên Bình sẵn sàng cho năm học mới.

Nghị quyết xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước phải bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mở rộng tiếp cận công bằng, thu hẹp chênh lệch giữa các vùng miền và đầu tư xây dựng mạng lưới trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của mọi đối tượng. Đặc biệt, Nghị quyết đặt mục tiêu hoàn thành mạng lưới trường phổ thông nội trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và biên giới trước năm 2030.

Với Cao Bằng, những định hướng ấy không chỉ là mục tiêu ở tầm chính sách. Nghị quyết chạm đúng vào những vấn đề mà giáo dục địa phương đã phải đối mặt trong nhiều năm: Một đứa trẻ ở vùng biên phải đi học thế nào, một người thầy phải dạy học trong điều kiện ra sao, và làm thế nào để khoảng cách địa lý không biến thành khoảng cách về chất lượng giáo dục.

Nghị quyết 71 được Bộ Chính trị ban hành ngày 22/8/2025, trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển, từ tư duy truyền thống sang quản trị hiện đại, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển STEM, trí tuệ nhân tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Theo bà Lý Thị Trang Hòa, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cao Bằng, Nghị quyết 71 xuất hiện đúng vào thời điểm địa phương cần một cách tiếp cận mới: Không chỉ giải quyết những thiếu hụt trước mắt, mà phải nhìn giáo dục như một động lực phát triển lâu dài.

Từ chỗ lo làm sao để học sinh có chỗ học, có giáo viên đứng lớp, có nơi ăn ở; câu hỏi lớn hơn bắt đầu được đặt ra: làm thế nào để một nền giáo dục ở miền núi, biên giới có thể tạo ra những học sinh đủ năng lực bước vào tương lai?

1-cao-bang-nghi-quyet-71-12.jpg
Phóng viên Báo Giáo dục và Thời đại phỏng vấn bà Lý Thị Trang Hòa, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cao Bằng.

Một năm sau ngày Nghị quyết 71 được ban hành, câu trả lời bắt đầu xuất hiện từ những thay đổi trong cách Cao Bằng tổ chức và điều hành giáo dục.

Từ nâng chất lượng giáo dục đại trà, đổi mới ôn thi tốt nghiệp THPT đến đưa STEM, Robotics, nghiên cứu khoa học trở thành những không gian phát triển mới cho học sinh; từ việc sắp xếp mạng lưới trường lớp đến xây dựng các trường nội trú liên cấp vùng biên, giáo dục Cao Bằng đang dần chuyển từ tư duy “giải quyết khó khăn” sang “kiến tạo năng lực phát triển”.

Và chính ở những chuyển động ấy, tinh thần Nghị quyết 71 bắt đầu được nhìn thấy không chỉ trên giấy. Vấn đề này sẽ được đề cập ở “Bài 2: Từ vùng khó đến điểm sáng.”

(còn nữa)

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Sạt lở kéo theo đá lăn tại Lạng Sơn.

Đá lớn lăn vào nhà dân ở Lạng Sơn

GD&TĐ - Mưa bão gây ra vụ sạt lở đêm 23/8 rạng sáng ngày 24/8, kéo theo một số khối đá lớn lăn xuống đường, lao vào nhà dân tại Lạng Sơn.

Gala Dinner giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA - VACOD 2026: Hợp tác quốc tế - Kết nối doanh nhân

Gala Dinner giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA - VACOD 2026: Hợp tác quốc tế - Kết nối doanh nhân

Tiếp nối Giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA-VACOD 2026, tối 23/8, chương trình Gala Dinner “Hợp tác quốc tế - Kết nối doanh nhân” diễn ra tại Khách sạn Daewoo Hà Nội, mở rộng không gian giao lưu, xúc tiến thương mại và đầu tư giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với doanh nhân Việt Nam tại Australia…