Với nguồn vốn lớn được phân bổ và chuyển tiếp trong năm 2026, TP Đà Nẵng đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm tra, giám sát các chương trình mục tiêu quốc gia. Trong đó, phát huy vai trò của cán bộ cơ sở và cộng đồng dân cư là giải pháp quan trọng để bảo đảm nguồn lực đến đúng đối tượng, đáp ứng nhu cầu thực tế.
Giám sát hiệu quả sử dụng nguồn lực
Trong giai đoạn 2020 - 2025, xã Tây Giang (TP Đà Nẵng) có tổng vốn đầu tư phát triển hơn 780 tỷ đồng, trong đó vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia hơn 445 tỷ đồng, chiếm 57,05%.
Nguồn lực này đã góp phần đầu tư hơn 550km đường giao thông nông thôn, bảo đảm 100% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Đáng chú ý, hơn 200 tỷ đồng được dành cho quy hoạch, san ủi mặt bằng và xây dựng 41 điểm tái định cư, giúp hơn 1.300 hộ dân ở khu vực có nguy cơ thiên tai, sạt lở có nơi ở an toàn.
Theo ông Bhling Mia, Bí thư Đảng ủy xã Tây Giang, để các chương trình phát huy hiệu quả, địa phương chú trọng phân công nhiệm vụ cụ thể, gắn trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị với tiến độ và kết quả công việc. Mô hình quản lý “7 rõ”, gồm: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ tiến độ, rõ hiệu quả và rõ chế độ thông tin báo cáo, được áp dụng trong điều hành.
Câu chuyện ở Tây Giang cho thấy quy mô đầu tư có thể tạo nên những thay đổi lớn đối với địa bàn miền núi. Tuy nhiên, hiệu quả của nguồn vốn không chỉ nằm ở số lượng công trình được xây dựng. Chất lượng sử dụng, khả năng đáp ứng nhu cầu dân sinh và tác động đến đời sống người dân mới là những yếu tố cần được theo dõi, đánh giá thường xuyên.
Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng, năm 2026, tổng kế hoạch vốn phân bổ cho các chương trình mục tiêu quốc gia hơn 963,3 tỷ đồng. Ngoài ra, thành phố có hơn 1.339,2 tỷ đồng vốn giai đoạn 2021-2025 chuyển nguồn sang năm 2026.
Trước khối lượng nguồn lực lớn, thành phố đang tăng cường kiểm tra, giám sát từ khâu phân bổ đến tổ chức thực hiện. Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia đã được thành lập, kiện toàn tại 69 xã, phường. Thành phố tổ chức 3 lớp tập huấn về cơ chế, chính sách với gần 800 người tham dự, đồng thời yêu cầu các địa phương tăng cường lấy ý kiến người dân.
Ở các xã Ia Ko, Kon Chiêng và nhiều địa phương ở Gia Lai chú trọng tuyên truyền để người dân nắm rõ mục tiêu, chính sách, quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia chương trình. Những mô hình hiệu quả, cách làm hay và gương điển hình vươn lên thoát nghèo được giới thiệu nhằm khuyến khích người dân học hỏi, chủ động áp dụng vào điều kiện của gia đình và cộng đồng.
Đây là khâu quan trọng để nâng cao hiệu quả chương trình, bởi giảm nghèo bền vững cần sự chủ động vươn lên của người dân, còn xây dựng nông thôn mới đòi hỏi sự tham gia tích cực của cộng đồng trong lựa chọn, thực hiện và giám sát các công trình.
Việc công khai danh mục công trình, tiêu chí lựa chọn đối tượng, mức hỗ trợ và tiến độ thực hiện sẽ giúp người dân chủ động theo dõi, phản ánh những bất cập. Qua đó, cộng đồng không chỉ thụ hưởng mà còn trực tiếp góp phần giám sát việc sử dụng nguồn lực tại địa phương.
Người dân cần được tiếp cận thông tin về danh mục đầu tư, mức hỗ trợ, tiêu chí lựa chọn đối tượng và tiến độ thực hiện. Khi có điều kiện theo dõi, phản ánh và tham gia giám sát, cộng đồng sẽ góp phần phát hiện những bất cập trong quá trình triển khai, hạn chế tình trạng hỗ trợ sai đối tượng hoặc công trình chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
Nâng cao năng lực giám sát ở cơ sở
Trong Chương trình MTQG 417, Tiểu dự án 3 thuộc Dự án 10 tập trung vào kiểm tra, giám sát, đánh giá và đào tạo, tập huấn tổ chức thực hiện chương trình. Đây là nội dung quan trọng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ trực tiếp triển khai chính sách.
Tháng 7/2026, UBND TP Đà Nẵng ban hành kế hoạch triển khai Chỉ thị số 19-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035.
UBND xã Trà Tân ngay sau đó đã tổ chức hội nghị tập huấn về Tiểu dự án 3, Dự án 10. Cán bộ tham dự được hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, đánh giá, thu thập thông tin và xây dựng báo cáo.
Ông Nguyễn Thanh Tú, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Tân, cho biết năm 2026 là năm đầu triển khai chương trình trong giai đoạn mới. Vì vậy, trang bị kiến thức và nghiệp vụ cho cán bộ trực tiếp thực hiện sẽ góp phần bảo đảm chính sách được triển khai đúng quy định, đúng đối tượng và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Thực tế, công tác giám sát ở cấp cơ sở đòi hỏi cán bộ không chỉ nắm chắc quy định mà còn phải có khả năng kiểm tra, đối chiếu thông tin và đánh giá kết quả tại địa bàn. Nếu chỉ tổng hợp số liệu giải ngân hoặc báo cáo khối lượng công việc, những vấn đề liên quan đến chất lượng công trình, khả năng duy trì mô hình sản xuất hay mức độ cải thiện đời sống của hộ thụ hưởng sẽ khó được nhận diện đầy đủ.
Vì vậy, hoạt động tập huấn cần gắn với những tình huống cụ thể trong quá trình thực hiện chính sách. Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cập nhật dữ liệu, theo dõi tiến độ và tổng hợp báo cáo sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý phát hiện sớm những dự án chậm triển khai, những địa bàn còn vướng mắc để có phương án xử lý.
Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm trách nhiệm giải trình. Từng cơ quan, đơn vị cần được giao nhiệm vụ và thời hạn cụ thể; những trường hợp chậm tiến độ, thay đổi phương án hoặc kết quả không đạt mục tiêu cần được làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm. Hoạt động giám sát cần có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, người có uy tín và cộng đồng dân cư.
Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của HĐND TP Đà Nẵng về cơ chế, chính sách thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn thành phố đã xác định nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng và tránh trùng lặp giữa các nội dung hỗ trợ. Đây là cơ sở để các địa phương thực hiện thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, giám sát.
Với Chương trình MTQG 417, giám sát không nên chỉ được xem là khâu kiểm tra sau khi hoàn thành dự án mà cần trở thành công việc thường xuyên trong toàn bộ quá trình thực hiện. Khi cán bộ đủ năng lực, thông tin được công khai và người dân có điều kiện tham gia, những hạn chế sẽ được nhận diện sớm hơn, nguồn lực được điều chỉnh sát nhu cầu hơn. Qua đó, hiệu quả chương trình được nhìn nhận bằng những chuyển biến thực tế trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.