Bản in

Văn hóa

Thứ Bảy, 30/3/2019 07:13

Phố “nôi” miền sông Hương núi Ngự

Phố “nôi tre” trên đường Lê DuẩnPhố “nôi tre” trên đường Lê Duẩn

GD&TĐ - Không bỏ nghề, cũng không bám víu vào mẫu mã xưa cũ, những gia đình làm “nôi” thủ công giờ làm theo cách của mình, tạo ra nét đặc trưng riêng của miền sông Hương núi Ngự.

Đi dạo phố “nôi”

Đoạn đường Lê Duẩn bắt đầu từ cầu Giả Viên theo hướng Bắc đến cửa Chánh Tây được người Huế đặt tên là “phố nôi”. Xóm đan nôi mây tre truyền thống không nhiều, chỉ khoảng chục hộ, phần nhiều trong số đó là họ hàng. Cửa hiệu được gọi theo tên tục như hiệu nôi ông Thành, ông Tuấn, nôi mệ Hoa...

Không ai nhớ chính xác nghề đan nôi mây tre ở đây có từ bao giờ, chỉ biết tính đến nay đã là đời thứ 3, thứ 4 theo nghề gia truyền. Nôi mệ Hoa (bà Trần Thị Hoa - 70 tuổi) là cái tên nổi bật nhất ở “phố nôi”. Ở tuổi “thất thập cổ lai hi”, bà vẫn ngồi đan nôi mà không cần đeo kính lão.

Bà Hoa tỏ ra vui vẻ khi có ai đến hỏi chuyện nghề nôi mây tre: “Ngày đầu mới học thì theo ba mạ phụ việc xếp mây và làm công việc lặt vặt. Dần dần được dạy cho cách đan, cách rút từng tao để làm sao cho chiếc nôi cân đối, đẹp mắt. Rồi tay nghề theo năm tháng trở nên lão luyện, tinh xảo. Người giỏi làm mỗi chiếc nôi chưa kể công đoạn chẻ mây, tre thì mất hai, ba ngày mới hoàn thành”.

Hồi trước 1975, sản phẩm được đem ra chợ Đông Ba ký gởi, người bán hưởng 10%; hoặc bày bán hai bên đường Nguyễn Hoàng (tên cũ của đường Lê Duẩn). Mỗi chiếc nôi tùy theo cỡ vừa hay lớn, có giá từ 200.000 đến 300.000 nghìn đồng. Nôi mây tre thường được đồng bào các dân tộc miền núi Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Nam và Tây nguyên ưa dùng.

Đối với những làng quê thuần Việt, hình ảnh bà, mẹ bên chiếc nôi kẽo kẹt, ầu ơ ru con, ru cháu đã trở thành niềm cảm hứng cho biết bao thi nhân. Tiếng hát, tiếng nôi ấy cũng đã từng là hành trang khôn lớn trong kí ức của bao nhiêu thế hệ lớn lên từ làng quê. Ngày nay, những cái nôi tiện lợi được thiết kế bằng nhiều chất liệu đẹp, được đưa tự động, có cả nhạc đang dần thay thế nôi thủ công truyền thống.

Vậy mà nghề đan nôi mây tre ở Huế vẫn được duy trì một cách âm thầm mà bền bỉ. Để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, họ biến hóa chiếc nôi thành kiểu treo bốn tao dây đu đưa kẻo kẹt bằng cái giá gỗ dễ dàng lắp ghép, dựng ngay trên nền gạch rất gọn gàng. Cũng tùy nhu cầu người mua họ còn thiết kế thêm bộ phận đong đưa nôi chạy bằng điện.

Mây rừng, nguyên liệu cần thiết để làm nôi, phải dự trữ từ mùa khô (xuân-hè) 

Hoài niệm tiếng ru hời

Nói về nghề đan nôi xứ Huế không thể không nhắc đến nghề “đệm bàng” làng Phò Trạch (xã Phong Bình, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế). Hai nghề truyền thống này gắn liền công việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với nhau một cách khăng khít. Ngày trước lúc đi mua nôi cho trẻ, người ta không quên mua thêm chục chiếc “chẹ” (tiếng Huế gọi chiếc chiếu nhỏ), sản phẩm của làng Phò Trạch.

Chẹ là tên gọi một loại sản phẩm đa năng tương tự như chiếu nhưng bé hơn. Chẹ lớn gọi là đệm, rộng bằng cái giường cá nhân 1mx1,8m. Chẹ nhỏ hơn, dành trải trong nôi trẻ nằm, diện tích bằng 1/3 chiếc đệm trải giường. Trời phú cho dân làng Phò Trạch loại cây “cỏ bàng” hoang hóa sinh trưởng trên vùng đồng sâu ngập nước lợ quanh năm. Từ tháng 2 âm lịch trở đi, dân làng chèo ghe xuồng ra đó, dùng liềm cắt từ 1,5m-2m ngang gốc. Chở về nhà phơi khô 5-7 ngày, sau đó bỏ vào cối giã thật mềm, tướt ra thành sợi, ép thật mỏng để đan thành sản phẩm (chẹ, túi xách, giỏ).

Theo Phan Kế Bính trong sách Việt Nam phong tục, ngày xưa khi đứa trẻ đến tuổi cho vào nôi ngủ, gia đình phải coi ngày lành tháng tốt, chọn giờ nước lên (nước sông) để trẻ được ăn no ngủ kĩ. Người bồng đứa trẻ đặt vào nôi cũng phải chọn người ăn, ngủ tốt gọi là lấy cái “nết”. Đôi khi giàu có nhưng gia đình không mua cái nôi mới. Họ chọn nhà nào có đứa trẻ khỏe mạnh chóng lớn để xin cái nôi cũ. Hoặc dùng lại cái nôi cũ của anh, chị đứa trẻ. Dân làng vùng biển Thừa Thiên - Huế rất quý cái roi làm bằng đuôi con cá đuối phơi khô để cột vào nôi, họ tin cái roi này đem lại sự ăn no, ngủ kĩ cho trẻ.

Ngày trước, tiệc cúng lễ “nằm nôi” tổ chức rất linh đình ở Huế. Cái nôi và đồ dùng toàn đồ mới và sang trọng vì thằng bé là “quý tử”. Thế nhưng, khi buổi lễ vào nôi bắt đầu, bà nội đứa trẻ lại ẵm một con chó xinh xắn nho nhỏ cho vào nôi trước. Con chó vùng vằng một lúc rồi nhảy ra. Sau đó người ta mới vui vẻ đặt đứa trẻ vào nôi ru hời. Đến đây xem như lễ vào nôi hoàn tất mỹ mãn. Mọi người vào tiệc.

Vũ Hào