Văn hóa

Hà Nội có làng “phi trầu cau bất thành lễ”

TRẦN THÁI - 08:27 28/01/2020
Ăn trầu là phong tục tốt đẹp. Ăn trầu là phong tục tốt đẹp.

Nét gia phong từ hàng cau, giàn trầu

Phú Lễ là 1 trong 6 thôn của xã Cần Kiệm (Thạch Thất). Từ một làng hẻo lánh ven sông Tích, giờ đây nhiều nhà cao tầng mọc san sát giống chốn phố thị nhưng không che khuất nổi những hàng cau già vượt lên cao vút. Nơi đây nhà nào cũng trồng cau “làm vốn ăn dần” bởi sự nghiện trầu từ xửa xưa.

Các cụ già làng Phú Lễ không ai biết người làng mình bắt đầu ăn trầu từ bao giờ, chỉ biết rằng ông bà truyền đời cho con cháu. Ăn nhiều thành quen, trẻ con mới chỉ vài ba tuổi đã được làm quen với miếng trầu. Đến khi trưởng thành thì nghiện trầu cau từ lúc nào không hay. Bởi thế mà cho đến bây giờ vào Phú Lễ cứ như lạc trong một ngôi làng có tục lệ cổ xưa, từ đứa trẻ mới vài ba tuổi đã bỏm bẻm nhai trầu.

Cũng bởi tục lệ ăn trầu cau đã trở thành nét văn hóa không thể thiếu, các cụ trong làng coi cây cau, giàn trầu như sức khỏe của mình, luôn chăm chút cẩn thận để cây xanh tốt. Cho nên, đến Phú Lễ nhìn hàng cau, giàn trầu là nhìn nét gia phong của chủ nhà vậy.

Theo thống kê, thôn Phú Lễ có gần 400 hộ với khoảng 1.500 nhân khẩu. Số người ăn trầu ở Phú Lễ hiện chiếm tới gần 90% dân số của làng. Nhiều cụ cao niên ở Phú Lễ đã có thâm niên ăn trầu đến 70 - 80 năm. Có người một ngày ăn đến mấy chục miếng trầu, miệng lúc nào cũng nhai bỏm bẻm.

Cụ Phùng Thị Thêm (80 tuổi) bảo rằng: “Chúng tôi ăn trầu đã thành thói quen, nếu thiếu thì không thể chịu được. Đi đâu ra khỏi làng tôi phải có bọc trầu trong túi. Gần Tết Âm lịch nhà nào cũng có nong trầu phơi”.

Mặc dù trồng nhiều cau nhưng hàng năm không đủ đáp ứng nhu cầu ăn trầu của người dân trong làng. Người Phú Lễ quan niệm, ngày Tết có thể thiếu bánh chưng, thiếu đào quất nhưng phải lo sắm đủ cau trầu cho 3 ngày.

Đó là mặt hàng bán chạy nhất mỗi dịp Tết đến tại làng Phú Lễ. Thậm chí, bất cứ gia đình nào ở Phú Lễ có việc lớn nhỏ gì cũng không thiếu được đĩa trầu. Các đôi đến xã đăng ký kết hôn vẫn thường mang theo dăm quả cau dăm lá trầu. Cau trầu đã trở thành nét văn hóa thường nhật, mấy quán ăn, quán nước đầu làng, người ta còn mời cau trầu như người thành phố mời hoa quả.

 Với người Triều Khúc, têm trầu là tính cách; với người Phú Lễ cũng vậy nhưng không cầu kỳ.

Thách cưới nghìn cau


Lễ ăn hỏi, chạm ngõ của người Việt ít khi thiếu trầu cau.

Đến nay người Phú Lễ vẫn giữ tục thách cưới bằng cau, giống như người Nam Định thách cưới bánh gai vậy. Trầu cau ấy đều phải đi chia khắp làng, vì thế mỗi đám cưới phải cần tới hơn 2.000 quả cau. Có nhà đi mua cau cưới mà người ta nghĩ là khách buôn cau. Phải năm cau được mùa thì dễ, năm mất mùa cau thì tục thách cưới ấy trở thành một nỗi lo. Vì thế, các cao niên trong làng ngồi lại, giảm tục thách cưới ấy xuống còn 400 quả cau, 400 lá trầu.

Một số người cao tuổi kể rằng, trước đây nếu con trai, con gái sinh ra ở Phú Lễ đến tuổi trưởng thành mà không biết ăn trầu sẽ không lấy được vợ, được chồng. Nếu là người làng khác lấy vợ, lấy chồng về Phú Lễ thì có thể bỏ qua, nhưng đã là người Phú Lễ lấy nhau thì trong ngày đám cưới đều phải có thủ tục bổ đôi quả cau, miếng trầu ra chia cho cô dâu, chú rể ăn ngay trước mặt mọi người.

Với người dân Phú Lễ, sống với miếng trầu, nên duyên bởi miếng trầu và chết cũng với miếng trầu. Trầu đã đi vào đời sống như một lẽ tất yếu kiểu như “miếng trầu là đầu câu chuyện”.

Người Phú Lễ vẫn đọc câu thơ trầu cau của ông giáo làng “Giàn trầu bên ấy đang cay/ Cau non bên này bén hạt đương tươi/ Anh về bảo mẹ mua vôi/ Ngày vui hai họ đỏ môi thắm tình”. Trầu cau là nét văn hóa thì đã hẳn, nhưng trong quan niệm của người địa phương: “Phi trầu cau bất thành lễ”, trong bất cứ một sinh hoạt tín ngưỡng nào không cần sắm sanh nhiều lễ vật đắt tiền, chỉ cần lễ trầu cau là đủ.

Điều đặc biệt, miếng trầu của người Phú Lễ không được têm cuộn tròn lại như chiếc kén hay cầu kì hình cánh phượng như vùng Kinh Bắc mà lá trầu được cắt đều, bày xòe trên đĩa. Họ giải thích rằng, người Phú Lễ không muốn bao biện biểu hiện tấm lòng chân thật, không nghi ngờ gian dối gì ai.

Không được gọi “bố”, phải biết ăn trầu


Chỉ với cau, lá trầu, vỏ rễ chay, vôi, thuốc lào mà trầu cau thành vị thuốc.

Ngoài Phú Lễ, Hà Nội còn một ngôi làng nổi tiếng ăn trầu không kém là làng Triều Khúc, xã Tân Triều (Thanh Trì). Làng Triều Khúc là làng cổ đã được công nhận và biết đến với nhiều di tích liên quan tới Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Cả làng, kể cả người nhập cư đến không ai được gọi cha đẻ của mình là bố. Gọi như vậy là phạm húy đến thánh, đến Thành hoàng Phùng Hưng.

Triều Khúc cũng là một ngôi làng trong thời hội nhập với những nghề truyền thống nổi tiếng đất Bắc. Nào chiếc nón quai thao, nào lông gà lông vịt, nào đồng nát, khoai lang. Những thứ ấy cho đến nay vẫn không hề phai nhạt. Không ai biết tại sao ngôi làng ấy, người làng ấy lại giữ được nhiều tinh túy văn hóa đến vậy.

Người lạ đến Triều Khúc, không cần gặp ngày hội hay đám đình giỗ chạp cũng thấy ngạc nhiên vì người người nhà nhà ăn trầu. Chàng thanh niên miệng bỏm bẻm nói, tay thoăn thoắt têm trầu mời khách. Khách cám ơn tạ từ, chàng thanh niên nhoẻn miệng cười đỏ tươi đưa miếng trầu cho đứa bé lên tư. Đứa nhỏ đưa trầu vào miệng, nhai bỏm bẻm thích thú vẻ chuyên nghiệp như chàng thanh niên kia.

Ở nhiều nơi trong đám đình, trà thuốc hay đồ ăn ngọt là thức mời khách xã giao. Còn ở Triều Khúc, cái câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” mới thực là được áp dụng một cách triệt để. Không kể người làng hay khách, chủ nhà đều bưng khay trầu đến mời để khởi đầu cho một câu chuyện chung vui hay chia buồn.

Ở tại quán nước vỉa hè, chè bán thì ít mà trầu bán được nhiều. Người làng ngồi trong nhà mãi, thấy nhạt mồm nhạt miệng ra mua miếng trầu về ăn. Thợ thủ công trong khu làng nghề lông gà lông vịt cũng tranh thủ chạy ra mua miếng trầu nhai cho át đi cái mùi tanh tưởi. Và ở đình hay quán thờ ở mỗi xóm, các cụ già hay bày chiếu têm trầu. Những đứa cháu đi theo tíu tít ngồi cạnh học đòi cách bà nội têm. Và thi thoảng, chúng vui mừng được bà cho miếng trầu têm cánh phượng đẹp mắt.

Trong cái tục ăn trầu, thì không chỉ ở làng Triều Khúc mới có. Nhưng ở Hà Nội bây giờ, tục ăn trầu phổ biến nhất phải là Triều Khúc. Có thể đó là sự đánh giá chủ quan, võ đoán nhưng dù sao thì sự đặc sắc của văn hóa phần nào được tô điểm từ chính tục lệ này. Ông Nguyễn Huy Oanh đang giữ chức Cai làng Triều Khúc lắc lư cái đầu bảo rằng, tục nhai trầu ở làng này không biết có từ bao giờ. Có lẽ từ thời Phùng Hưng lập doanh trại nơi đây và diễn xướng bởi điệu múa “con đĩ đánh bồng”.

Miếng trầu Triều Khúc thì đa dạng vô cùng. Có khi là hoa mỹ theo lối cánh phượng, có khi lại mộc mạc bổ ra làm tư, làm tám tước hờ vỏ ngoài, cắt bỏ núm cau. Trầu được cắt ra, lá nhỏ làm đôi hoặc ba, lá to thì cắt bốn, cứ để nguyên miếng trầu rồi quết vôi vào cuộn lại. Cũng tùy sở thích của mỗi người mà cách têm trầu có khác. Có người cắt những miếng trầu rồi cuộn lại như chiếc tổ sâu. Ở trong “kén” ấy nào là cau, vỏ rễ chay, vỏ cây sang, có khi thêm sợi thuốc lào cho mặn mà, chắc răng.

“Con đĩ đánh bồng” môi đỏ trầu cau


Vườn cau tại Triều Khúc.

Trong tục lệ cúng lễ của người Việt, lễ dâng tế Thần hay lễ cúng gia tiên đều phải có trầu cau. Ở Triều Khúc cũng vậy, nhất là khi đi lấy vợ, trước khi cưới cũng phải có cơi trầu chạm ngõ gồm vài chục quả cau với mươi lá trầu, khi cưới xin ngoài các lễ vật khác nhất thiết phải có trầu cau, buồng cau có ít cũng phải 100 hay 99 quả, với trầu kèm theo. Bởi vậy mà ngay trước quán Án (quán thờ Lão Tử - đạo Giáo) cũng có hàng chục cây cau già. Không biết bao nhiêu mùa trổ quả, để những buồng cau đẹp dâng Thánh hay nhường lại cho đôi trai gái nên duyên.

Đặc biệt, ngôi làng với điệu múa “con đĩ đánh bồng” đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2019 cũng phải gắn liền với tục trầu cau. Những chàng trai giả gái múa bồng mua vui cũng phải bỏm bẻm nhai trầu cho môi đỏ má son. Ở Triều Khúc trước đây cũng rất giống làng Phú Lễ, trong làng cô con gái nào đi lấy chồng đều phải chia cau cho bà con làng xóm, mỗi nhà một vài quả. Lúc cau trầu đắt nhiều gia đình tổ chức đám cưới cho con phải chi phí tiền trầu cau lớn hơn cả tiền thực phẩm thịt cá.

Cụ đồ Vạn Phú ở làng Triều Khúc kể rằng, ngày trước cha mẹ trong làng đều dặn dò con gái khi chọn chồng, phải chọn chàng trai nào ăn được nhiều trầu mà không bị say thì hẵng lấy. Bởi điều đó biểu hiện bản lĩnh, sức vóc của một đức lang quân có thể làm nên việc lớn. Tục ăn trầu ở Triều Khúc được truyền từ đời này qua đời khác nên mọi người trong làng đều biết nhai trầu, từ các cụ già đến các em nhỏ không phân biệt nam nữ, có nhiều người nghiện, ngủ dậy phải nhai trầu, ăn cơm xong cũng phải cần miếng trầu. Và, miếng trầu đã trở thành một nền nếp sống của làng.

Người dân nơi đây truyền nhau, thời xa xưa khi con người chưa biết đến chuyện làm duyên bằng son phấn, thì cái duyên trầu cau đã làm đẹp cho bao cô gái. Cái duyên của trầu cau là cái duyên của một sự chuyển hóa thành Đạo. Trầu cau, vôi trắng tất cả nếu đứng riêng rẽ, thì mỗi thứ chỉ là cây, là đá, là lá nhưng khi chúng hợp lại, hòa quyện cùng nhau trong môi miệng của con người thì tất cả bỗng biến đổi, trở nên đằm thắm lương duyên.

Thầy đồ Vạn Phú nói vui rằng, có câu chuyện kể rằng người con trai Triều Khúc thà chịu cảnh ế vợ chứ chẳng bao giờ chịu bỏ miếng trầu. Thực ra đó chỉ là câu chuyện đưa đẩy để nói lên sự kiên trì và bảo vệ truyền thống ông cha để lại. Ở Triều Khúc, trai gái trẻ ngồi ăn trầu với nhau có thể khởi duyên thắm lại. Những câu hát dò tình “trầu này trầu quế, trầu hồi, trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình. Trầu này trầu tính, trầu tình. Trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình với ta” cũng đủ để họ xích lại với nhau.

“Ai về cũng sẽ ăn trầu/ Bởi trai Triều Khúc khéo cầu duyên thơm” là một câu ca dao rất hay. Theo ông Cai làng Nguyễn Huy Oanh thì đó là đúc kết kinh nghiệm mà thành, để trai Triều Khúc khéo lành duyên thơm. “Phi trầu cau bất thành lễ” nên miếng trầu với người Phú Lễ và Triều Khúc còn là đạo vợ chồng với những câu thơ cổ: “Miếng trầu nên đạo vợ chồng/ Ăn dăm ba miếng mà lòng nhớ thương/ Cầm lược thì nhớ tới gương/ Cầm túi đi đường, ta nhớ đến nhau.”

Bởi vậy, đạo vợ chồng ở hai ngôi làng trầu cau nổi tiếng Hà Nội rất được coi trọng. Đạo ấy không chỉ bằng lời nói, mà có thể chỉ giản đơn là chồng hay vợ têm cho nhau một miếng trầu. Nhờ miếng trầu mà thắm lại với nhau, cũng nhờ miếng trầu mà nhắc nhớ nhau về những lỗi lầm, chệch hướng để rồi cùng nhau trở về chính đạo.

“Ăn trầu là tục lệ lâu đời và tốt đẹp của người Triều Khúc. Dựa vào miếng trầu mà biết được tính cách, nền nếp gia phong của người têm trầu. Người đó giản dị hay cầu kỳ, hiếu khách hay chỉ là xã giao… đều lộ ra hết. Rất may mắn là trong thời hiện đại, mọi thứ bị xâm lấn thì chúng tôi vẫn giữ vẹn nguyên tục lệ ăn trầu”.
Ông Nguyễn Huy Oanh

Trần Thái

Bình luận của bạn đọc