Bản in

Trao đổi

Thứ Tư, 18/7/2018 18:39

Tranh cãi về vấn đề học riêng nam-nữ

Tranh cãi về vấn đề học riêng nam-nữ

GD&TĐ - Trên tinh thần “trở lại các giá trị truyền thống”, vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ở Nga đã xuất hiện các trường phổ thông thực nghiệm đầu tiên với các lớp học riêng nam - nữ. Hiện nay ở Nga có vài trăm trường như vậy trên tổng số 40.000 trường phổ thông, gồm: các trường truyền thống (trường võ bị, tôn giáo) và trường thực nghiệm. Xin giới thiệu ba luận chứng của những người ủng hộ học riêng nam - nữ và ý kiến phản biện của tác giả.
 

Luận chứng 1: Tách riêng nam - nữ sẽ nâng cao kết quả học tập

Những người ủng hộ học riêng nam –nữ cho rằng cần phải dạy cùng một vấn đề cho học sinh nam và nữ theo những cách khác nhau. Vì cấu tạo não bộ và sự tiếp nhận thông tin của họ khác nhau. Họ khẳng định rằng đặc điểm thần kinh sinh học của học sinh nam và nữ khác nhau.

Tuy nhiên, vấn đề đang được tranh luận sôi nổi, vì các công trình nghiên cứu gần đây về đại não của nam và nữ chứng minh rằng trên thực tế não nam và nữ rất giống nhau. Những người ủng hộ học riêng nam –nữ thường đưa ra các luận chứng như sau:

- Học sinh nam cần sự thi đua, học sinh nữ cần làm việc đồng đội;

- Học sinh nữ quan sát, phân tích, sau đó hành động. Học sinh nam hành động và trong quá trình hành động các em phân tích;

- Học sinh nam và nữ cần một hệ thống động cơ khác nhau;

- Học sinh nam cần nhiều thời gian hơn để tập trung chú ý. Có thể giải thích chủ đề cho học sinh nữ vào đầu bài học, nhưng các học sinh nam phải sau 15 phút mới bắt đầu làm việc có hiệu quả;

- Học sinh nam e ngại khi có mặt học sinh nữ và ngược lại;

Trong những năm học đầu tiên, học sinh nữ phát triển vượt bậc so với học sinh nam.

Tiến sĩ sinh học Tatyana Chernigovskaya trong bài viết “Dạy não học như thế nào?” cho rằng dù sao não nam và nữ cũng khác nhau, nhưng không phải ở chỗ “hơn-kém”, mà đơn giản là chúng khác nhau. Ngay cả nhiệt độ trong phòng học cũng khác nhau đối với học sinh nam và nữ.

Nam sinh học tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ thấp, các em cần không gian, sự vận động, môi trường cạnh tranh và luôn luôn được khen ngợi. Nữ sinh cần nhiều màu sắc, điều quan trọng đối với các em là sự tin cậy của giáo viên.

Hiệp hội tâm lý Mỹ đã công bố kết quả 184 công trình khảo sát với sự tham gia của 1,6 triệu học sinh đến từ 21 nước. Theo đó, trình độ học vấn trong các lớp học riêng nam- nữ không hề tốt hơn trong các lớp học chung.

Thông thường, các lớp học riêng được hình thành với sự nhất trí của các bậc phụ huynh. Dưới tác động của họ chúng có thể được duy trì hoặc giải thể.

Luận chứng 2: Học sinh sẽ ít gặp rắc rối hơn về tâm lý và thể lực

Một số trường phổ thông Nga hiện đang áp dụng phương pháp “giáo dục bảo vệ sức khỏe”, do nhà giáo dục Vladimir Bazarnyi xây dựng.

Để chống lại những căn bệnh học đường phổ biến như cận thị và vẹo cột sống, Bazarnyi đề nghị sử dụng trong lớp loại đồ gỗ đặc biệt, dụng cụ luyện tập mắt, máy xoa bóp và học riêng nam –nữ. Ông cho rằng, việc học riêng nam - nữ tạo điều kiện thuận lợi về tâm lý cho trẻ em trong việc hình thành những “phương hướng đúng đắn”.

“Hiệp hội tâm lý Mỹ đã công bố kết quả 184 công trình khảo sát với sự tham gia của 1,6 triệu học sinh đến từ 21 nước. Theo đó, trình độ học vấn trong các lớp học riêng nam - nữ không hề tốt hơn trong các lớp học chung.Thông thường, các lớp học riêng được hình thành với sự nhất trí của các bậc phụ huynh. Dưới tác động của họ chúng có thể được duy trì hoặc giải thể”.

Theo Bazarnyi, khi học chung, các nam sinh chịu ảnh hưởng của giáo viên nữ và các bạn nữ phát triển hơn, họ chiếm vị trí đứng đầu và “áp đặt cho các nam sinh quan điểm thuần túy nữ giới của mình về ý nghĩa và giá trị cuộc sống”.

Vì thế, “các nam sinh buộc phải thay đổi trí tưởng tượng đàn ông, thay đổi những thói quen đàn ông và hình thành những thói quen nữ”. Đến lượt mình, “vai trò đứng đầu về ý chí và tinh thần của các nữ sinh khiến các em phát triển như đàn ông. Điều đó dẫn tới sự thay đổi hormone nội tiết và, như một hệ quả, sự rối lọan di truyền, làm xuất hiên một số căn bệnh mới “thuần túy đàn ông”.

Mặc dù bị phê phán là phản khoa học, nhưng phương pháp của Bazanyi hiện đang được không ít người ủng hộ ở nước Nga.

Luận chứng 3:Các nam sinh sẽ không chú ý tới các nữ sinh, đồng thời còn được giáo dục “các giá trị truyền thống”

Trước hết phải nói rằng “các giá trị truyền thống” không chỉ được dạy ở các trường học riêng nam –nữ. Ở Nga hiện nay, môn “Cơ sở đạo đức của cuộc sống gia đình” đang được giảng dạy ngoại khóa.

Tại một số trường phổ thông người ta đang tiếp cận một cách nghiêm túc vấn đề giáo dục “nam tính” và “nữ tính”. Ví dụ, trường phổ thông số 14 ở TP. Ekaterinburg vừa công bố “Chương trình phát triển. Quan điểm giới tính trong giáo dục và dạy học ở trường phổ thông cơ sở trong những năm 2018-2021”.

Trong đó nhấn mạnh: “... cần giáo dục cho học sinh định hướng vào những giá trị của gia đình. Phát triển đức tính dũng cảm: tính độc lập, cương nghị, năng động cho nam sinh; hình thành những nét tính cách như: sự dịu dàng, chu đáo, khả năng nội trợ cho học sinh nữ”.

Tuy nhiên, ngay cả ở những trường học chung nam nữ bình thường nhất thì bao giờ cũng tồn tại sự phân chia nam nữ trong các bài học “Lao động”: ở đấy nam sinh đóng bàn, ghế, còn nữ sinh khâu vá, nấu nướng...

Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng khi học riêng, các nam sinh và nữ sinh ít xao lãng việc học tập vì không bận chú ý tới các bạn khác giới. Nhưng làm sao kìm hãm được sự phát triển của hormone. Vì vậy bằng cách này hay cách khác các em sẽ tìm thấy đối tượng tình cảm lãng mạn của mình.

Minh họa sinh động nhất là công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Anh khẳng định rằng ở những học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông nam, tỷ lệ các vụ ly hôn lớn hơn so với những người học trong các trường chung.

Cuối cùng, tất cả phụ thuộc vào thái độ đối với nhà trường nói chung. Đối với một số bậc phụ huynh (và con cái họ), nhà trường trước hết là để học tập, đối với những người khác – đó là sự trải nghiệm xã hội. Nếu như trong vấn đề kết quả học tập thành phần giới tính của lớp học không đóng vai trò gì lớn thì trong vấn đề xã hóa hóa việc học riêng nam –nữ là một nhược điểm lớn.

Ngay cả khi không có sự phân chia giới tính, nhà trường là một thiết chế nhân tạo: ngoài nhà trường và quân đội, không ở đâu con người chỉ sống với những người cùng tuổi. Thường xuyên có mặt bên cạnh những người cùng tuổi là một môi trường không bình thường, xa lạ với cuộc sống.

Vì vậy, quan điểm giới tính trong giáo dục xem ra rất lỗi thời trong bối cảnh các xu hướng giáo dục hiện đại, khi giáo dục ngày càng được cá nhân hóa theo đặc điểm và nhu cầu của từng người học riêng lẻ. Không hề liên quan gì tới giới tính.

Trần Thanh Hằng (Theo báo Nga)