Bản in

Trao đổi

Thứ Sáu, 6/4/2018 09:50

Phương pháp giải bài tập xác suất Di truyền học người

Ảnh minh họa/internetẢnh minh họa/internet

GD&TĐ - Trong sách Sinh học 12, Di truyền học người chỉ giới thiệu phần lý thuyết về bệnh di truyền phân tử, hội chứng bệnh liên quan đến đột biến nhiễm sắc thể, bệnh ung thư. 

Bài tập phần xác suất Di truyền học ngườitrong sách không đề cập đến và không có bài tập mẫu ở phần này. Tuy nhiên, đây là nội dung hay xuất hiện trong bài thi THPT quốc gia.

Đúc kết từ nhiều năm giảng dạy, cô Nguyễn Thị Thanh Bình – giáo viên Trường THPT Tam Nông (Phú Thọ) – chia sẻ kinh nghiệm về phân loại, nhận biết và giải nhanh bài tập phần xác suất Di truyền học người, góp phần giúp thí sinh tự tin hơn trong kỳ thi THPT quốc gia tới.

3 bước giải

Theo cô Nguyễn Thị Thanh Bình, bài tập Di truyền học người thường là những bài toán do một gen quy định, trội lặn hoàn toàn, do vậy nó tuân theo các quy luật di truyền của Men Đen, di truyền liên kết với giới tính, di truyền học quần thể.

Để làm được bài tập phần này, HS cần nắm vững sự phân li kiểu gen, kiểu hình trong hai phép lai cơ bản sau:

Một gen quy định một tính trạng trội, lặn hoàn toàn theo quy luật của Men Đen; Gen lặn quy định tính trạng thường nằm trên nhiễm sắc thể X không có vùng tương đồng trên Y.

Khi làm bài toán về xác suất, ít nhất HS phải xác định được kiểu gen của bố mẹ và xem nó thuộc trường hợp nào để xác định kiểu hình ở đời con.

Về phương pháp giải, học sinh tiến hành theo ba bước sau:

Bước 1: Xác định sự xuất hiện kiểu gen, kiểu hình ở đời con như thế nào.

Bước 2: Tính xác suất là con trai hay con gái theo yêu cầu của đầu bài.

Bước 3: Nhân các xác suất thoả mãn yêu cầu bài toán để có đáp số.

Trong bài toán có hai hoặc ba cặp tính trạng, mỗi cặp tính trạng do một gen qui định thì chúng ta xét riêng từng cặp sau đó xét chung đúng với các yêu cầu của bài toán.

Sự phân ly kiểu gen, kiểu hình là giống với các quy luật di truyền đơn thuần chỉ khác con người mỗi lần sinh chỉ sinh một (sinh vật đơn thai), nên các lần sinh khác nhau là độc lập về tỉ lệ nên phải tính hết các trường hợp thoả mãn và các tỉ lệ phù hợp đảm bảo cho kết quả bài toán đúng.

Sinh đôi, sinh ba cùng trứng như một lần sinh, nên chỉ cần tính xác suất cho một lần sinh là đủ.

Sinh đôi, sinh ba khác trứng giống như các lần sinh khác nhau, nên phải tính các trường hợp thoả mãn.

Bài toán do các gen trên NST X không có alen trên Y không cần phải tính là xác suất con trai hay con gái.

Ví dụ về một gen quy định một tính trạng và gen nằm trên NST thường

Ví dụ về một gen quy định một tính trạng và gen nằm trên NST giới tính X không có vùng tương đồng trên Y

Ví dụ 1: Bệnh mù màu ở người do đột biến gen lặn trên NST X không có alen tương ứng trên Y. Một người phụ nữ bình thường có bố bị mù màu, lấy người chồng không bị bệnh mù màu. Tính:

1, Xác suất sinh con bị mù màu.

2, Xác suất sinh con trai bình thường.

3, Xác suất sinh 2 người con đều bình thường.

4, Xác suất sinh 2 người con: một bình thường,một bị bệnh.

5, Xác suất sinh 2 người con có cả trai và gái đều bình thường.

Phương pháp giải:

"Để học sinh làm được các bài tập phần Di truyền học người, yêu cầu phải nắm vững kiến thức cơ bản của các như chương II" Tính quy luật của hiện tượng di truyền"; chương III "Di truyền học quần thể"; chương V "Di truyền học người" của sách cơ  bản Sinh học 12.

 

Học sinh phải xác định mối quan hệ của các dữ kiện của các chương II, III, V nêu trên, từ đó người học phải luôn tư duy, suy luận logic, thúc đẩy người học không ngừng sáng tạo luôn luôn phải cố gắng, tích cực, tự lực; phải liên hệ phần quy luật di truyền theo phân li, di truyền liên kết với giới tính, di truyền học quần thể.

 

Khi giải các bài toán, học sinh vừa tìm lời giải, vừa phải vận dụng những kiến thức Toán học một cách linh hoạt chính xác, do vậy học sinh vừa kiểm tra được kiến thức Sinh học, vừa kiểm tra kiến thức Toán học từ đó các em tự đánh giá được kết quả học tập của bản thân" - cô Nguyễn Thị Thanh Bình.

Hải Bình (ghi)