Bản in

Trao đổi

Thứ Hai, 14/1/2019 11:25

Bài 2: Những kế thừa và khác biệt

Môn Ngữ văn trong Chương trình GDPT mới

Trong giờ Ngữ văn tại Trường THPT Long Châu Sa 3 (Phú Thọ). Ảnh: Trung ToànTrong giờ Ngữ văn tại Trường THPT Long Châu Sa 3 (Phú Thọ). Ảnh: Trung Toàn

GD&TĐ - Chương trình Ngữ văn mới kế thừa nhiều ưu điểm của chương trình hiện hành; đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng nội dung chương trình của các nước có nền GD phát triển. Phương pháp dạy học Ngữ văn theo Chương trình GDPT mới cũng có những điểm khác biệt.

Đáp ứng yêu cầu mới

Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống - Chủ biên Chương trình môn Ngữ văn - Chương trình Ngữ văn mới kế thừa những văn bản hay, tiêu biểu cho các thể loại và kiểu văn bản đã được tuyển chọn trong chương trình hiện hành. Cụ thể, ở tiểu học, nhiều văn bản thơ, văn xuôi (hư cấu và phi hư cấu), văn bản kịch ngắn hay và phù hợp với HS tiểu học trong chương trình hiện hành, được tái tuyển vào danh mục ngữ liệu dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình mới. Tuy nhiên, vì ở bậc tiểu học, chủ yếu là dạy tiếng bằng bài văn, trích đoạn ngắn, nên ngữ liệu về căn bản là mở (không đặt vấn đề bắt buộc).

Ở THCS và THPT, việc kế thừa, tái tuyển văn bản (ngữ liệu) từ chương trình hiện hành thể hiện rõ trong ba danh mục Ngữ liệu: Bắt buộc, bắt buộc lựa chọn và tự chọn trong chương trình Ngữ văn mới. Hầu hết những tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc của văn học Việt Nam, từ dân gian, trung đại đến hiện đại, đương đại đều đã được dạy học trong chương trình hiện hành. Riêng ở danh mục văn bản “tự chọn”, gồm trên dưới 300 văn bản, tỉ lệ ngữ liệu được tái tuyển từ chương trình hiện hành cũng chiếm khoảng trên 70%.

Chương trình mới kế thừa chương trình hiện hành hệ thống kiến thức cơ bản về tiếng Việt, văn học, tập làm văn. PGS Đỗ Ngọc Thống cho biết, chương trình mới có lựa chọn và tổ chức lại kiến thức theo yêu cầu mới. Chẳng hạn:

Ở tiểu học, môn Tiếng Việt vẫn kế thừa những nội dung cơ bản về tiếng Việt trong chương trình hiện hành (Ngữ âm và chữ viết, Từ vựng, Ngữ pháp…) nhưng các kiến thức này được tổ chức lại theo hệ thống yêu cầu cần đạt gắn với các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe của chương trình mới.

Ở THCS và THPT, nhiều nội dung cơ bản trong trong chương trình Ngữ văn mới về từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, sự phát triển của ngôn ngữ và các biến thể ngôn ngữ, và về văn học… cũng được kế thừa từ trong chương trình hiện hành.

Điểm khác biệt mang tính đổi mới là kiến thức Tiếng Việt giờ đây không còn được học thành bài riêng như trong chương trình hiện hành mà được phân bố, lồng ghép, tích hợp trong khi dạy đọc, viết, nói và nghe; kết nối dạy học, rèn luyện các kĩ năng này với cung cấp kiến thức tiếng Việt hết sức chọn lọc dựa trên một hay một cụm ngữ liệu chung cho toàn bài học Ngữ văn.

Ngoài ra, chương trình mới kế thừa chương trình hiện hành việc chú trọng yêu cầu đọc hiểu và tạo lập văn bản theo kiểu loại. Ở tiểu học, tuy dạy Ngữ văn chủ yếu là dạy tiếng (tên môn học là Tiếng Việt), nhưng hệ thống ngữ liệu sử dụng để dạy học, nhất là dạy đọc và viết, vẫn được tuyển chọn theo chương trình Ngữ văn THCS và THPT mới kế thừa chương trình Ngữ văn hiện hành, tập trung dạy đọc hiểu văn bản theo các kiểu loại cơ bản: Truyện, thơ, kịch, kí và các kiểu loại văn bản nghị luận, văn bản thông tin. Chỉ khác ở chỗ, nếu chương trình hiện hành kết hợp hai trục thể loại và lịch sử văn học, thì chương trình Ngữ văn mới dựa hẳn vào trục thể loại/kiểu văn bản để dạy học đọc, viết, nói và nghe; dạy phân tích, cảm thụ văn học.

Chương trình mới cũng kế thừa và phát triển định hướng tích hợp và phân hoá đã được xác lập trong chương trình hiện hành, nhưng phát triển hơn nữa cho phù hợp với định hướng của chương trình phát triển năng lực. Chẳng hạn, chương trình Tiếng Việt mới ở tiểu học đã thực hiện tích hợp dạy kiến thức tiếng Việt với dạy thực hành đọc, viết, nói và nghe, kết nối dạy kĩ năng đọc với kĩ năng viết, kĩ năng nói và nghe dựa trên một hệ thống ngữ liệu chung. Cũng như vậy, chương trình Ngữ văn THCS và THPT tiếp tục định hướng dạy học tích hợp triệt để: Tích hợp dạy ngữ với dạy văn, dạy giao tiếp với dạy cảm thụ văn học, phát triển năng lực thẩm mĩ.

Dạy học phân hóa ở THCS và THPT có điều kiện thực hiện rõ nét hơn so với tiểu học. Riêng với THPT, tinh thần dạy học phân hóa còn có điều kiện thực hiện sâu hơn thông qua hệ thống chuyên đề học tập mang tính hướng nghiệp. Những HS yêu thích văn học hay có thiên hướng nghề nghiệp thuộc các ngành Văn học, Khoa học Xã hội và Nhân văn có thể chọn học các chuyên đề nâng cao về văn học. Mặt khác, chủ trương “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”, cũng là để tạo điều kiện dạy học phân hóa theo đối tượng HS, phân hóa theo địa lý vùng miền.

Trả lời câu hỏi: “Chương trình Ngữ văn đã tiếp thu những gì từ kinh nghiệm xây dựng nội dung chương trình của các nước có nền GD phát triển?” PGS Đỗ Ngọc Thống chia sẻ: Ban soạn thảo đã nghiên cứu và vận dụng vào bối cảnh Việt Nam mô hình chương trình Ngữ văn phát triển năng lực của các nước có nền GD phát triển như: Australia, Hàn Quốc, Hoa Kì, Anh, Đức, Phần Lan, Singapore… Trên cơ sở tham khảo chương trình của những quốc gia, chương trình Ngữ văn mới chú ý một số phương diện:

Xây dựng các chuẩn (yêu cầu cần đạt) về đọc, viết, nói và nghe nói; tích hợp các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe vào chương trình cụ thể ở các lớp/ cấp học; tuyển chọn ngữ liệu theo tiêu chí để xây dựng một hệ thống ngữ liệu mở.

Ngoài ra, chương trình Ngữ văn mới cũng tiếp thu định hướng về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập theo phẩm chất và năng lực trong chương trình Ngữ văn của các nước.

Để chọn đúng các phương pháp dạy học

Về phương diện phương pháp dạy học, theo PGS Đỗ Ngọc Thống, chương trình mới cũng kế thừa những phương pháp dạy học tích cực đã và đang được thực hiện. Đó là những phương pháp: Thuyết trình tích cực, đặt và giải quyết vấn đề, thực hành giao tiếp, rèn luyện theo mẫu, sử dụng trò chơi học tập…

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, chương trình Ngữ văn giới thiệu những phương pháp dạy học đặc thù của môn học. Đó là: Phương pháp dạy đọc, phương pháp dạy viết, phương pháp dạy nói và nghe. Nêu lên định hướng và yêu cầu về cách dạy từng kĩ năng cụ thể, không chỉ dừng lại phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung.

Để chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng bài học, PGS Đỗ Ngọc Thống cho biết, về nguyên tắc cần căn cứ vào: Mục tiêu cụ thể của bài học; mục tiêu phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung của HS ở cấp học.

Nội dung trong mỗi bài học Ngữ văn soạn theo chương trình mới thường có phần thiên về cung cấp tri thức (về tiếng Việt, về văn học), có phần thiên về rèn luyện kĩ năng (đọc, viết, nói và nghe), có phần thiên về nhận thức các giá trị, chuẩn mực (giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ, chuẩn mực tiếng Việt, chuẩn mực văn hóa…). Cần chọn những phương pháp dạy học đặc thù phù hợp với từng phần.

Chẳng hạn: Với phần rèn luyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, cần chọn những phương pháp dạy học đặc thù cho việc rèn từng kĩ năng.

Với phần cung cấp tri thức mới cần chọn tổ hợp phương pháp dạy học kết hợp giữa những phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học mới như: Đàm thoại gợi mở, thuyết trình tích cực (có tương tác tích cực giữa giáo viên và HS), động não, đặt và giải quyết vấn đề, thảo luận và tranh luận, viết sáng tạo…

Với phần nhận thức các giá trị, chuẩn mực cần chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: Đóng vai, giải quyết tình huống, tranh luận, viết sáng tạo…

Ngoài căn cứ vào mục tiêu GD, việc lựa chọn phương pháp dạy học của giáo viên cho mỗi bài học còn cần căn cứ thêm vào bối cảnh cụ thể của từng lớp học như: Sĩ số lớp, phương tiện dạy học, lứa tuổi của HS và hoàn cảnh sống của phần lớn HS trong lớp…

Bài 3: Những điểm mới

4 căn cứ xác định nội dung GD môn học Ngữ văn:

 

Căn cứ vào mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực nêu trong chương trình tổng thể, cũng như mục tiêu của chương trình môn học Ngữ văn. Đó là chương trình phát triển năng lực, lấy mục tiêu là các yêu cầu cần đạt làm xuất phát điểm để thiết kế các thành tố còn lại của chương trình.

 

Căn cứ vào logic của các lĩnh vực làm nền tảng cho môn học Ngữ văn trong nhà trường, đó là văn học và Việt ngữ học.

Căn cứ vào thành quả xây dựng các chương trình Ngữ văn đã có ở Việt Nam, nhất là chương trình hiện hành.

 

Tham chiếu chương trình một số nước có nền giáo dục phát triển về cách xác định nội dung dạy học.

Hiếu Nguyễn

Tin tiêu điểm

ĐỌC NHIỀU NHẤT