Bản in

Thể thao học đường

Thứ Tư, 6/3/2019 14:11

Bài 1: Những kế thừa và khác biệt

Môn Giáo dục thể chất trong Chương trình GDPT mới

Nội dung chương trình GD thể chất mới sẽ đa dạng và cuốn hút hơnNội dung chương trình GD thể chất mới sẽ đa dạng và cuốn hút hơn

GD&TĐ - TS Đặng Ngọc Quang - Chủ biên chương trình (CT) môn Giáo dục thể chất (GDTC) - cho biết: CT GDTC được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực với tất cả các yêu cầu về: mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá; được biên soạn theo mẫu mới chung cho các CT môn học.

Môn học bắt buộc

Theo TS Đặng Ngọc Quang, GDTC là môn học bắt buộc, được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12. Môn học này góp phần thực hiện mục tiêu GD phát triển phẩm chất và năng lực của HS, trọng tâm là: Trang bị cho HS kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện thể dục thể thao (TDTT), khả năng lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực và tố chất vận động; trên cơ sở đó giúp HS có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người.

Nội dung GDTC được phân chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn GD cơ bản và giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp.

Ở giai đoạn GD cơ bản: Môn GDTC giúp HS biết cách chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện TDTT; hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện. HS được lựa chọn nội dung hoạt động TDTT phù hợp với thể lực của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường.

Giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp: Môn GDTC được thực hiện thông qua hình thức CLB TDTT. HS được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường để tiếp tục phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, đồng thời giúp những HS có năng khiếu thể thao tự chọn định hướng nghề nghiệp phù hợp.

Mục tiêu chung, môn GDTC giúp HS hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng vận động, thói quen tập luyện TDTT và rèn luyện những phẩm chất, năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao.

Tăng thời lượng, đa dạng nội dung

Kế thừa là một nguyên tắc, đồng thời là một trong các cơ sở khoa học quan trọng để thiết kế CT mới. TS Đặng Ngọc Quang chia sẻ, CT GDTC mới kế thừa CT Thể dục hiện hành về mục tiêu, nhằm phát triển sức khỏe và thể lực HS; giúp HS có những kiến thức, kĩ năng cơ bản và hình thành thói quen tập luyện TDTT thường xuyên; có nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, tinh thần tập thể và các phẩm chất đạo đức, ý chí; giúp HS biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào các hoạt động ở nhà trường và trong đời sống hằng ngày.

CT GDTC kế thừa các mạch nội dung cốt lõi: Đội hình đội ngũ, rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản, bài tập thể dục, trò chơi vận động và thể thao tự chọn, nhưng được cấu trúc lại theo những mạch nội dung đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống từ lớp 1 đến lớp 9 đáp ứng yêu cầu GD cơ bản (giai đoạn GD cơ bản), phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi HS.

Các phương pháp dạy học truyền thống và hiện hành đều được kế thừa đó là vận dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp GD phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến, sáng tạo, linh hoạt vận dụng cho từng đối tượng cụ thể để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng.

Tính kế thừa thể hiện ở chỗ, dù mục tiêu kiểm tra đánh giá hướng tới năng lực và phẩm chất, nhưng vẫn phải dựa trên cơ sở hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản thông qua các nội dung môn học. Các hình thức và công cụ đánh giá như: Kiểm tra miệng, câu hỏi trắc nghiệm, kiểm tra khả năng thực hiện bài tập, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ… đều được kế thừa trong CT GDPT mới, kết hợp và bổ sung thêm những hình thức và công cụ mới nhằm đánh giá đúng phẩm chất và năng lực của HS.

Về những khác biệt, TS Đặng Ngọc Quang cho biết: CT GDTC được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực với tất cả các yêu cầu về: Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá; được biên soạn theo mẫu mới chung cho các CT môn học. CT GDTC giúp cho HS phát triển năng lực đặc thù như: Chăm sóc sức khoẻ; vận động cơ bản; hoạt động TDTT. Bên cạnh đó, CT còn góp phần GD HS phát triển các năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ…

Về thời lượng, số tiết ở lớp 1 tăng từ 35 tiết/năm lên thành 70 tiết/năm. CT xây dựng các mạch nội dung kiến thức bao gồm: Kiến thức chung; vận động cơ bản; thể thao tự chọn xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12.

Nội dung thể thao tự chọn được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12, với nội dung đa dạng hơn và được thực hiện theo hướng mở, để các địa phương có nhiều lựa chọn hơn. Đối với CT GDTC cấp THPT, HS được lựa chọn học các môn thể thao. Các môn thể thao được xây dựng theo 3 mức: Nhóm kĩ thuật cơ bản; nhóm kĩ thuật nâng cao; nhóm vận dụng, thi đấu.

CT môn học được xây dựng trên cơ sở của yêu cầu cần đạt cụ thể cho từng cấp học, lớp học, nhưng linh hoạt trong thực hiện. Các nhà trường được tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện của địa phương. Ngoài ra, CT môn học được xây dựng theo hướng mở và đa dạng tài liệu hướng dẫn thực hiện môn học.

Cơ sở vật chất vẫn là tiền đề để phát triển GD thể chất từ lớp 1 

Đổi mới cách đánh giá kết quả

Đánh giá kết quả GDTC là hoạt động thu thập thông tin và so sánh mức độ đạt được của HS so với yêu cầu cần đạt của môn học, nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự tiến bộ của HS, mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của CT để trên cơ sở đó điều chỉnh hoạt động dạy học và cách tổ chức quản lí nhằm không ngừng nâng cao chất lượng GD.

Lưu ý của TS Đặng Ngọc Quang, đánh giá kết quả GD phải căn cứ vào mục tiêu và các yêu cầu cần đạt đối với từng lớp học, cấp học trong CT môn GDTC, theo các tiêu chuẩn đánh giá thể lực HS do Bộ GD&ĐT ban hành, chú trọng kĩ năng vận động và hoạt động TDTT của HS; Đánh giá phải bảo đảm toàn diện, khách quan, có phân hoá; kết hợp giữa đánh giá thường xuyên và định kì; kết hợp giữa đánh giá của GV, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của HS, đánh giá của cha mẹ HS. HS được biết thông tin về hình thức, thời điểm, cách đánh giá và chủ động tham gia quá trình đánh giá.

 

CT GDTC mới được xây dựng dựa trên việc tham khảo nhiều CT của các nước có nền giáo dục tiên tiến như Đức, Hàn Quốc, Scotland, Nga, Nhật... Tuy nhiên không hoàn toàn dựa vào CT của một nước cụ thể nào mà chỉ tham khảo, học tập những điểm tích cực có thể áp dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

 
TS Đặng Ngọc Quang

Đánh giá phải coi trọng sự tiến bộ của HS về năng lực, thể lực và ý thức học tập; có tác dụng thúc đẩy, hỗ trợ HS phát triển các phẩm chất, năng lực; tạo được hứng thú, khích lệ tinh thần tập luyện của HS, qua đó khuyến khích HS tham gia các hoạt động TDTT ở trong, ngoài nhà trường.

Đánh giá thường xuyên: Bao gồm đánh giá chính thức (thông qua các hoạt động thực hành, tập luyện, trình diễn...) và đánh giá không chính thức (bao gồm quan sát trên lớp, đối thoại, HS tự đánh giá...) nhằm thu thập những thông tin về quá trình hình thành, phát triển năng lực của từng HS.

Đánh giá định kì: Nội dung đánh giá chú trọng đến kĩ năng thực hành, thể lực của HS; phối hợp với đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin để phân loại HS và điều chỉnh nội dung, phương pháp GD.

Đánh giá định tính: Kết quả học tập được mô tả bằng lời nhận xét hoặc biểu thị bằng các mức xếp loại. HS có thể sử dụng hình thức này để tự đánh giá sau khi kết thúc mỗi nội dung, mỗi chủ đề, hoặc GV sử dụng để đánh giá thường xuyên (không chính thức). Đánh giá định tính được sử dụng chủ yếu ở cấp tiểu học.

Đánh giá định lượng: Kết quả học tập được biểu thị bằng điểm số theo thang điểm 10. GV sử dụng hình thức đánh giá này đối với đánh giá thường xuyên chính thức và đánh giá định kì. Đánh giá định lượng được sử dụng chủ yếu ở THCS, THPT.

__________________________

Bài 2. Giải pháp về giáo viên và điều kiện dạy học

Hải Bình