Bản in

Trao đổi

Thứ Bảy, 11/5/2019 13:00

“Chiến thuật” để đạt điểm cao môn Ngữ văn

Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh cùng học trò (ảnh nhân vật cung cấp)Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh cùng học trò (ảnh nhân vật cung cấp)

GD&TĐ - Ngữ văn là môn thi tốt nghiệp bắt buộc và là một trong 3 môn quan trọng của nhiều khối thi. Để học tốt môn Văn, các em cần nắm chắc kiến thức và phương pháp ôn tập và nắm vững phương pháp làm bài đối với từng dạng câu hỏi.

Nắm kiến thức cơ bản theo từng chuyên đề

Cô Nguyễn Thị Bích Hạnh, Tổ trưởng Ngữ văn, Trường THPT Phan Đình Phùng (Đắk Lắk) cho biết: Để ôn tập đạt hiệu quả cao đối với môn Ngữ văn, học sinh cần chú ý nắm chắc kiến thức trọng tâm của từng chuyên đề, tự hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy, bảng biểu để dễ ghi nhớ; Rèn luyện kỹ năng làm bài theo cấu trúc đề thi minh họa của Bộ GD&ĐT hướng dẫn.

Ở phần Đọc hiểu, lựa chọn những ngữ liệu ôn tập có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tính chính xác, phù hợp với chuẩn mực văn hóa, đạo đức, thuần phong mĩ tục; có tính giáo dục, tính nhân văn, có tính cập nhật, mới mẻ, hấp dẫn.

Trong quá trình luyện tập, câu hỏi phần Đọc hiểu chú ý đọc kĩ mệnh đề, gạch chân các từ ngữ và câu quan trọng để hiểu đúng, diễn đạt trôi chảy chuẩn xác từng câu trả lời. HS không nên bỏ trống câu nào, dòng nào, trả lời đúng câu hỏi của đề, không nên viết dài. Luyện tập kỹ năng trả lời câu hỏi từ các mức độ và các cấp độ từ dễ đến khó. Những câu hỏi liên quan đến các kiến thức về lý thuyết thường ở cấp độ nhận biết và thông hiểu, những câu hỏi liên quan đến bài tập thường ở cấp độ vận dụng và vận dụng cao.

Trình bày đoạn theo phương thức tổng - phân - hợp

Theo cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh, ở phần Làm văn, đối với câu Nghị luận xã hội, trong cấu trúc đề tham khảo của Bộ GD&ĐT, yêu cầu HS viết đoạn văn khoảng 200 chữ.

Kinh nghiệm nhiều năm hướng dẫn HS, để đạt điểm tối đa trong câu hỏi này, khi viết đoạn HS không xuống dòng, nên có mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn, các thao tác lập luận có ưu tiên. Trình bày đoạn theo phương thức tổng - phân - hợp, nhớ bám sát đề ra và nhớ phản đề và liên hệ bản thân. Câu hỏi này thường ở mức độ vận dụng cao, đòi hỏi học sinh ngoài việc nắm chắc hình thức bố cục đoạn văn, tìm hiểu những vấn đề có tính thời sự, mới để liên hệ trong bài làm.

Ngoài ra học sinh phải biết vận dụng được kiến thức văn học, đời sống xã hội để viết đoạn văn, đồng thời thể hiện rõ chính kiến về vấn đề nghị luận và tư duy sáng tạo của mình.

Câu làm văn Nghị luận văn học thường tập trung các dạng đề như nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, nghị luận về các vấn đề văn học. Đặc biệt, trong những năm gần đây, thường gặp các dạng đề so sánh như: So sánh hai chi tiết; cảm nhận hai nhân vật; cảm nhận hai đoạn thơ, hai đoạn văn; so sánh, cảm nhận hai ý kiến...

Ví dụ đề bài: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016), từ đó liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để nhận xét quan niệm của nhà văn về vẻ đẹp con người.

Hay: Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài nhiều lần nói về tiếng sáo, đặc biệt là hai lần trong đêm tình mùa xuân. Lúc đầu nghe tiếng sáo, Mị thấy “thiết tha bổi hổi…Mị ngồi nhẩm thầm lời người đang thổi sáo”. Lúc bị A Sử trói vào cột nhà, tiếng sáo lại rập rờn trong đầu Mị – “Mị vùng bước đi”. (Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) – Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục)

Phân tích hình ảnh nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên. Từ đó, làm nổi bật diễn biến tâm trạng của nhân vật và giá trị nhân đạo qua hai lần miêu tả đó”.

Để bài làm đạt điểm cao, trong quá trình ôn tập, HS cần nắm vững kiến thức cơ bản, từ đó so sánh giữa các đơn vị kiến thức có liên quan nhằm hiểu bài có hệ thống và tư duy sâu. Tăng cường rèn luyện kỹ năng các bài tập vận dụng theo các cấp độ, mức độ của từng dạng đề ra. Lý giải nguyên nhân tạo nên sự khác nhau trong cách kết thúc; đánh giá chung.

Cần chú ý các “mẹo”, các “kĩ thuật” làm bài

Cô Nguyễn Thị Bích Hạnh lưu ý: Đối với những HS yếu, có nguy cơ điểm liệt cao thì cần chú ý các “mẹo”, các “kĩ thuật” làm bài như “công thức” , những yêu cầu ngoài của bài làm, những lưu ý của thầy cô “cầm tay chỉ việc”, thậm chí hướng tới giải các đề văn, mô phỏng thành các bài văn mẫu để dễ nhớ...

Ngoài việc có kỹ năng làm bài tốt, học sinh cần sắp xếp thời gian và dung lượng hợp lý cho các phần. Ví dụ phân chia các thao tác lập luận theo đáp án có thể là: Giải thích 1/5; phân tích 2/5; so sánh 1/5; bình luận 1/5. Nếu đề bài yêu cầu so sánh giữa hai tác phẩm thì dung lượng phân chia cho hai tác phẩm là 50/50. Còn nếu đề bài chỉ yêu cầu từ một tác phẩm liên hệ tới một tác phẩm khác thì phân chia cho hai tác phẩm nên là 80/20.

Tùy từng đối tượng HS, GV có thể phân hóa để có cách thức ôn tập hiệu quả. Mỗi HS cần xác định cho mình mục tiêu và kế hoạch ôn tập đúng đắn và cần kiên trì để đạt kết quả cao trong Kỳ thi THPT quốc gia.

Chú ý các tiểu tiết trong tác phẩm văn học
Cô Bùi Quế Anh cùng học sinh
Cô Bùi Quế Anh, GV Trường THPT Hoài Đức B (Hà Nội) cho biết: Theo đề thi tham khảo của Bộ GD&ĐT, năm nay, đề thi tập trung vào các tiểu tiết trong tác phẩm văn học, chủ yếu là kiến thức lớp 12 nên HS cũng không quá lo lắng.
Chẳng hạn, trong tác phẩm “Tây Tiến” là các chi tiết như “Anh bạn dãi dầu không bước nữa… bỏ quên đời” và “Áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành”… HS nên chú ý đến từng chi tiết về nội dung và nghệ thuật. Có nghĩa là khi dạy cho cho HS, GV luôn phải nhấn mạnh cho HS từng chi tiết nhỏ để HS biết phân tích, so sánh, đối chiếu, đánh giá.
Tuy nhiên, đây chỉ là những gợi ý để các em có thể tham khảo, HS nên chú ý đến từng chi tiết nội dung và nghệ thuật hơn nhưng không được học tủ mà tránh các tác phẩm khác hay các tác phẩm đã rơi vào năm 2018. Bởi trên thực tế đã có trường hợp 2 năm liên tiếp đề thi có chi tiết của cùng một tác phẩm ở dạng so sánh.

Lê Đăng