Bản in

Trao đổi

Thứ Bảy, 25/2/2017 07:07

Cách tổ chức sử dụng case study trong giảng dạy

Cách tổ chức sử dụng case study trong giảng dạy

GD&TĐ - Tình huống thực tiễn (case study) là phương pháp giảng dạy dựa trên nghiên cứu tình huống, được khởi xướng từ những năm 40 của thế kỷ XX tại ĐH Havard. Với nhiều ưu điểm, hiện phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới.

Với case study, người dạy đưa ra tình huống còn người học đưa ra phân tích, đánh giá và trình bày ý tưởng của mình để qua đó vận dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm vào những trường hợp thực tế.

Vậy, tổ chức sử dụng case study như thế nào? Dưới đây là chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Đình Hựu (Trường ĐH Đại Nam) và TS Trần Thế Nữ (Trường ĐH Kinh tế, ĐHQG Hà Nội).

Tổ chức sử dụng case có vai trò then chốt trong hiệu quả sử dụng case. Tổ chức sử dụng case là cầu nối đưa case vào giảng dạy và nó lệ thuộc nhiều vào kỹ thuật tổ chức thảo luận, kỹ năng cá nhân của giảng viên và kỹ thuật đánh giá sử dụng case.

Kỹ thuật tổ chức thảo luận

Thảo luận tình huống nghiên cứu có thể sử dụng các kỹ thuật như thảo luận, tự do, tranh luận đối kháng, phương pháp nhóm nghiên cứu.

Thảo luận tự do: Giảng viên giới thiệu case cho lớp học, sau đó nêu ra hệ thống câu hỏi để hướng dẫn cả lớp thảo luận. Trong quá trình thảo luận, giảng viên có thể đưa ra gợi ý để giúp nội dung thảo luận luôn sôi nổi và đi đúng hướng. Tùy theo nội dung vấn đề mà giảng viên nên hoặc không nên tổng kết thảo luận và giải đáp các câu hỏi.

Tranh luận đối kháng: Thường được dùng trong trường hợp đề cập đến 2 quan điểm hoặc giải pháp trái ngược nhau cho cùng một vấn đề. Để tiến hành thảo luận, giảng viên chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm chuẩn bị ý kiến về một quan điểm hoặc giải pháp, sau đó lần lượt mỗi nhóm trình bày, nhóm kia đưa ra ý kiến phản bác.

Nhóm nghiên cứu: Giảng viên đưa ra một tình huống với các yêu cầu cụ thể và các câu hỏi dẫn dắt. Trên cơ sở đó, mỗi nhóm sinh viên tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu, trao đổi… để đi tìm lời giải. Phương pháp này không chú trọng việc thảo luận như các phương pháp trên mà chủ yếu giúp sinh viên cùng cộng tác để tìm hiểu, giải quyết một vấn đề khoa học, kỹ thuật nào đó.

Sắm vai nhóm nhận tình huống, phân vai vào các nhân vật trong tình huống, xử sự, hành động theo tình huống, vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống và rút ra bài học. Với kỹ thuật này, tình huống sẽ được giải quyết sinh động và đa dạng. Kỹ thuật này rất phù hợp với các môn học có tính thực tiễn cao như Quản trị kinh doanh, Quản trị nhân lực, Nghiệp vụ ngân hàng, Tổ chức công tác kế toán…

Kỹ thuật cá nhân của giảng viên

Bên cạnh kỹ thuật tổ chức thảo luận, kỹ năng cá nhân của giảng viên cũng có vai trò quan trọng trong công việc tổ chức thành công buổi nghiên cứu tình huống.

Ứng xử với các tình huống:

Giảng viên không chỉ là “nghe thấy” mà phải “lắng nghe” sinh viên trình bày để khuyến khích họ trao đổi, thảo luận. Việc lắng nghe và phản ứng khi lắng nghe tác động to lớn tới sự khuyến khích, kết quả của người nói.

Khuyến khích sinh viên nói và tỏ ra sẵn sàng lắng nghe, bày tỏ sự tôn trọng với người nói.

Xem xét những quan điểm, ý kiến của sinh viên thật kĩ lưỡng. Không đánh giá thấp hay tỏ ra coi thường người nói hay nội dung họ đang nói. Vẻ mặt cũng không được lô sự thiếu tôn trọng hay sự xao nhãng.

Lưu ý khi nghe thảo luận:

Nhìn người đang nói, thể hiện sự lắng nghe của mình. Biểu hiện bằng nét mặt và các từ thể hiện sự quan tâm như gật đầu, nhướn mày, chớp mắt,…, “vậy à”, “tốt đấy”, “tiếp tục đi”…

Giữ một khoảng cách phù hợp giữa người nghe và người nói; cố gắng nghe hết nội dung người nói định trình bày; cố gắng tổng hợp thông điệp của người nói trong khi nghe, khi chưa rõ cần hỏi lại ngay hoặc khi người nói dừng lại.

Kỹ thuật đánh giá sử dụng case

Đánh giá nên được tiến hành thường xuyên vì nó mang lại cho giảng viên các thông tin phản hồi của sinh viên về kết quả nhận thức, cảm nhận của sinh viên. Việc đánh giá của giảng viên ở đây không gồm đánh giá do nhà trường thực hiện.

Đánh giá được xây dựng thành các tiêu thức và sinh viên phải tự đánh giá, độc lập và hiểu rõ các tiêu thức;

Các phiếu đánh giá (nếu có) không nên yêu cầu điền tên hay các thông tin cá nhân của sinh viên, điều này giúp sinh viên mạnh dạn đánh giá hơn.

Các hình thức đánh giá phải đa dạng.

Gợi ý, lấy thông tin thăm dò chất lượng giảng dạy theo phương pháp 3x3: Mỗi sinh viên viết trên 1 phiếu đánh giá về 3 ưu điểm, 3 nhược điểm, 3 đề nghị với giảng viên;

Lấy thông tin thăm dò chất lượng giảng dạy cuối buổi học bằng bảng đánh giá lớn: Dựng, dán 1 bảng đánh giá chuẩn bị sẵn ở cửa ra vào, yêu cầu sinh viên trước khi về đánh giá vào bảng.

Bài trao đổi được biên tập từ tham luận của PGS.TS Nguyễn Đình Hựu (Trường ĐH Đại Nam) và TS Trần Thế Nữ (Trường ĐH Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) tại hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực người học tại các cơ sở đào tạo đại học ngoài công lập.