Bản in

Thời sự

Thứ Ba, 6/11/2018 14:07

Thông qua Luật GD Đại học góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo một cách thực chất

Thông qua Luật GD Đại học góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo một cách thực chất

GD&TĐ - Việc thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật GDĐH) tại kỳ họp này là cần thiết để tạo hành lang pháp lý một cách kịp thời cho các cơ sở GDĐH phát huy tự chủ, góp phần vào đổi mới, nâng cao chất lượng GDĐH một cách thực chất.

Các nội dung giữa Dự thảo Luật GDĐH, Luật Giáo dục cơ bản đã thống nhất

Sáng nay (6/11), ông Phan Thanh Bình, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Trước ý kiến đại biểu băn khoăn về tên gọi, lộ trình thông qua Dự thảo Luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) báo cáo: tên gọi, phạm vi điều chỉnh và lộ trình thông qua Dự thảo Luật tuân thủ theo Nghị quyết số 34/2017/QH14 đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 3.

Qua thảo luận tại Kỳ họp thứ 5, tại các phiên họp lần thứ 26, 27 của UBTVQH và tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách (tháng 9/2018) cũng như góp ý của các Đoàn ĐBQH, đa số ý kiến đều tán thành sự cần thiết, nội dung, phạm vi sửa đổi và cho rằng Dự án Luật đã đáp ứng yêu cầu, có thể trình Quốc hội xem xét thông qua.

Thực tế, mặc dù có quan hệ chặt chẽ với Luật Giáo dục song Luật GDĐH chỉ tuân thủ nguyên tắc, nguyên lý cơ bản về giáo dục và đào tạo. Cho đến nay, hầu hết các nội dung giữa hai Dự thảo Luật cơ bản đã thống nhất, không có xung đột, mâu thuẫn.

Việc thông qua Luật GDĐH tại kỳ họp này là cần thiết để tạo hành lang pháp lý một cách kịp thời cho các cơ sở GDĐH phát huy tự chủ, góp phần vào đổi mới, nâng cao chất lượng GDĐH một cách thực chất.

Về một số ý kiến đề xuất mở rộng phạm vi sửa đổi toàn diện Luật GDĐH, UBTVQH nhận thấy, việc sửa đổi, bổ sung Luật GDĐH lần này tập trung mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả của chính sách tự chủ đại học trong Luật hiện hành và chỉnh sửa các nội dung khác có liên quan để bảo đảm thống nhất trong thực hiện mà không làm thay đổi bố cục, kết cấu của Luật. Các chính sách khác về cơ bản vẫn phù hợp với thực tiễn. Do vậy, UBTVQH đề nghị xin được giữ nguyên phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật.

Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể đối với ngành nghề chuyên sâu đặc thù.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức và quản lý đào tạo, trình độ, văn bằng phù hợp với lĩnh vực sức khoẻ và một số lĩnh vực chuyên sâu đặc thù. 

Quy định rõ ràng, mạch lạc mô hình cơ sở GDĐH

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật quy định rõ hệ thống GDĐH Việt Nam bao gồm: trường đại học, học viện (gọi chung là trường đại học); đại học (là tổ hợp các trường đại học; trường trực thuộc) và các cơ sở GDĐH khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Hạt nhân cơ bản của hệ thống là trường đại học với cơ cấu tổ chức chuẩn mực theo thông lệ quốc tế. Học viện được điều chỉnh chung với trường đại học do đây chỉ là tên gọi của một số cơ sở GDĐH đã hình thành và đang tồn tại trong thực tiễn mà không có sự khác biệt so với trường đại học cả về cơ cấu tổ chức, chức năng, sứ mệnh.

Đại học là nhóm các trường đại học, viện nghiên cứu thành viên; trường và các đơn vị trực thuộc khác, cùng hoạt động trong một khuôn khổ pháp lý nhằm gia tăng giá trị, khả năng cạnh tranh và đóng góp của toàn hệ thống đối với xã hội.

Dự thảo Luật quy định nguyên tắc để các trường đại học và đại học tự chủ quyết định mô hình và cấu trúc của cơ sở GDĐH; theo đó, các trường đại học có thể tự phát triển và thành lập các trường trực thuộc bên trong (theo điều kiện, tiêu chuẩn do Chính phủ quy định) để trở thành đại học; hoặc trên cơ sở tự nguyện hay được Nhà nước quy định, các trường đại học được sáp nhập với nhau để trở thành một đại học. Các đại học quyết định cấu trúc và cơ chế quản lý của mình theo quy định pháp luật.

Có ý kiến băn khoăn về mô hình tổ chức của đại học quốc gia, đại học vùng, UBTVQH nhận thấy việc thành lập các đại học quốc gia (ĐHQG), đại học vùng được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết của Đảng. Trên thế giới, mô hình này không phải là mới và cũng đang là xu hướng phát triển nhằm hình thành các hệ thống đại học liên ngành, tạo sức mạnh tổng hợp để giải quyết những nhiệm vụ, yêu cầu mới về phát triển khoa học và công nghệ và cạnh tranh thế giới.

Trên cơ sở kế thừa thực tiễn, bảo đảm giữ ổn định hệ thống, tránh gây xáo trộn không cần thiết, UBTQH đề nghị các đại biểu cho giữ quy định như Dự thảo.

Ông Phan Thanh Bình 

Giải thích rõ khái niệm tự chủ, chi tiết hóa nội dung về trách nhiệm giải trình

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng giải thích rõ khái niệm tự chủ; quy định điều kiện, yêu cầu để được tự chủ; cụ thể hóa các nội dung tự chủ về chuyên môn, tổ chức, nhân sự, tài chính và tài sản;

Chi tiết hóa nội dung về trách nhiệm giải trình và yêu cầu đặt ra đối với cơ sở GDĐH khi thực hiện tự chủ; quy định rõ khái niệm trách nhiệm giải trình và các nội dung về chất lượng, học phí, kết quả kiểm toán mà nhà trường phải thực hiện công khai, minh bạch với người học, xã hội, cơ quan quản lý và các bên có lợi ích liên quan.

Về cơ cấu tổ chức và quản trị của cơ sở giáo dục đại học, có ý kiến đề nghị quy định cơ cấu tổ chức, mô hình quản trị của cơ sở GDĐH phù hợp với loại hình, chức năng, quy mô, sứ mệnh.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật phân biệt hai loại hình cơ sở GDĐH là công lập và tư thục. Trường tư thục được phân theo nguồn gốc sở hữu vốn (gồm trường có vốn đầu tư trong nước và trường có vốn đầu tư nước ngoài) và phân theo tính chất hoạt động (gồm trường tư thục và trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận). Trên cơ sở đó, quy định mô hình cơ cấu tổ chức và cơ chế quản trị phù hợp với tính chất của từng loại hình cơ sở GDĐH.

Thống nhất gọi cơ quan quản trị ở cả trường công và tư là Hội đồng trường

Dự thảo Luật cũng đã tiếp thu ý kiến đại biểu, thống nhất gọi cơ quan quản trị ở cả trường công lập và tư thục là Hội đồng trường; quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm của Hội đồng trường, của từng thành viên trong Hội đồng cũng như của Hiệu trưởng; xác định rõ Hội đồng trường là tổ chức quản trị còn Hiệu trưởng thực thi quyền quản lý, điều hành hoạt động nhà trường trên cơ sở quy định pháp luật và nghị quyết của Hội đồng.

Dự thảo Luật không quy định chi tiết tiêu chuẩn các chức danh Chủ tịch Hội đồng trường, Hiệu trưởng mà giao cho trường tự chủ quyết định phù hợp với quy định chung của pháp luật.

Một số ý kiến băn khoăn về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng trường và mối quan hệ giữa Hội đồng trường với các thiết chế quyền lực khác trong trường đại học. Về vấn đề này, UBTVQH báo cáo:

Đẩy mạnh tự chủ đại học là nội dung quan trọng và là mục tiêu chính của việc sửa đổi Luật lần này. Cùng với việc giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục đại học thì trách nhiệm quản lý nhà nước có nhiều thay đổi, chuyển từ quản lý sang tạo hành lang pháp lý, giám sát; do đó, việc củng cố vai trò, vị thế và quyền lực của thiết chế Hội đồng trường trong trường đại học là cần thiết.

Dự thảo Luật đã bổ sung quy định chuyển một số thẩm quyền trước đây do cơ quan chủ quản và Hiệu trưởng quyết định sang cơ chế Hội đồng trường quyết định; chuyển từ chế độ Thủ trưởng sang chế độ quyết nghị của tập thể, theo đó, thực hiện quyền tự chủ thuộc về Hội đồng trường; Hiệu trưởng thực hiện nhiệm vụ điều hành, quản lý nhà trường theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường. Điều này phù hợp với xu thế chung của GDĐH trên thế giới.

Tuy vậy, trong bối cảnh thực tế tổ chức, quản lý của các trường đại học Việt Nam hiện nay, UBTVQH đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội để việc hướng dẫn, chỉ đạo triển khai thực hiện bảo đảm hài hòa mối quan hệ quản trị của Hội đồng trường với vai trò thực thi, điều hành của Hiệu trưởng linh hoạt, hiệu quả.

Có đại biểu đề nghị thể chế hóa chức danh Chủ tịch Hội đồng trường kiêm Bí thư Đảng ủy (theo Nghị quyết 19/NQ-TW) trong trường công lập. UBTVQH cho rằng vấn đề này nên quy định tại các văn bản hướng dẫn và trong các văn bản của Đảng sẽ phù hợp hơn.

Xác định trách nhiệm của Nhà nước trong đầu tư phát triển GDĐH

Tiếp thu ý kiến đại biểu, Dự thảo Luật được chỉnh lý, bổ sung theo hướng xác định trách nhiệm của Nhà nước trong đầu tư phát triển GDĐH, quy định phương thức phân bổ ngân sách thông qua các hình thức: chi đầu tư, chi nghiên cứu phát triển, đặt hàng nghiên cứu, đào tạo, học bổng, tín dụng sinh viên theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả.

Về học phí, Dự thảo Luật quy định đây là khoản thu mà người học phải nộp cho cơ sở GDĐH để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đào tạo. Mức thu học phí được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật theo lộ trình tính đủ chi phí đào tạo theo quy định của pháp luật.

Cơ sở GDĐH phải công khai chi phí đào tạo, mức thu học phí và các khoản thu dịch vụ khác cho từng năm học và cho cả khoá học cùng với thông báo tuyển sinh; có trách nhiệm trích một phần nguồn thu học phí vào quỹ hỗ trợ sinh viên để hỗ trợ người học có khó khăn về tài chính.

Về quản lý tài chính, cơ sở GDĐH công lập tự bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên, có nghị quyết thông qua của Hội đồng trường được tự chủ quyết định đầu tư dự án phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu, tự quyết định nội dung và mức chi từ nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước. Dự thảo Luật cũng yêu cầu cơ sở GDĐH phải thực hiện kiểm toán và công khai nguồn tài chính.

Về quản lý, sử dụng tài sản, Dự thảo Luật quy định tài sản do Nhà nước đầu tư, giao cho cơ sở GDĐH được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính, tài sản công. Nhà trường được phép sử dụng một phần tài sản được giao vào kinh doanh, cho thuê, liên kết nhằm mục đích phát triển GDĐH theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển.

Dự thảo Luật bổ sung quy định về hệ thống bảo đảm chất lượng; trách nhiệm ban hành hệ thống các chuẩn về chương trình đào tạo, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng GDĐH; trách nhiệm của cơ sở GDĐH trong việc xây dựng hệ thống và kế hoạch thực hiện bảo đảm chất lượng đào tạo của nhà trường; bổ sung, chỉnh lý các quy định theo hướng nâng cao chất lượng và trách nhiệm của tổ chức kiểm định chất lượng cũng như việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng. 

Hiếu Nguyễn