Bản in

Thời sự

Thứ Bảy, 10/3/2018 06:00

Tạo sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn

Tạo sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn

GD&TĐ - Lao động nữ đang là một nguồn nhân lực chiếm số đông tại khu vực nông thôn, tuy nhiên những hạn chế về trình độ và kỹ năng lao động sản xuất đang là một rào cản lớn để phát triển và cản trở bình đẳng giới.

Tăng cường cơ hội tiếp cận đào tạo nghề cho phụ nữ nông thôn, được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế gia đình và giảm nghèo bền vững.

Cả nước có 26,2 triệu lao động nữ

Theo báo cáo năm 2016 của Tổng cục Thống kê, mặc dù nông nghiệp chỉ đóng góp 16,3% GDP của Việt Nam nhưng có đến 41,9% lực lượng lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Lao động nữ của cả nước là 26,2 triệu người, trong đó khoảng 44% đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Ở nông thôn, tỷ lệ phụ nữ làm việc trong nông nghiệp là 63,4%, so với 57,5% nam giới.

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp cho biết, thời gian qua các chính sách nhằm nâng cao quyền năng của phụ nữ nông thôn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng hoàn thiện. Nổi bật là Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020; Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017… Phụ nữ nông thôn ngày càng được tiếp cận và hưởng lợi từ các chính sách, chương trình này. Đến nay ước tính có trên 46% lao động nữ trong tổng số lao động được học nghề theo các đề án, chương trình của Bộ LĐ-TB&XH.

Tuy nhiên, phụ nữ nông thôn Việt Nam hiện vẫn gặp phải nhiều rào cản và khó khăn, thách thức. Cụ thể, tỷ lệ lao động nữ trong khu vực phi chính thức khá cao và chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Chất lượng việc làm của lao động nữ nông thôn còn thấp; tính ổn định, bền vững trong việc làm và tiếp cận tới các dịch vụ an sinh xã hội không cao. Việc đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn đã được chú trọng nhưng các loại hình đào tạo nghề dành cho phụ nữ thường là ngắn hạn và tập trung vào các kỹ năng “truyền thống” của phụ nữ, đồng thời đầu ra sau học nghề gặp rất nhiều khó khăn.

Đa dạng hóa các chương trình đào tạo

Theo ông Kamal Malhotra - Điều phối viên thường trú Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam, mục tiêu phát triển bền vững nhằm xây dựng một tương lai mà không ai bị bỏ lại phía sau, chỉ có thể thay đổi cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái nông thôn khi xóa bỏ những rào cản về mặt cấu trúc, phân biệt đối xử trong luật pháp, thực tiễn để đảm bảo các cơ hội, kết quả bình đẳng cho phụ nữ.

Tăng cường cơ hội tiếp cận đào tạo nghề cho phụ nữ nông thôn, ông Đào Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Đào tạo thường xuyên Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ LĐ-TBXH) cho rằng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành phối hợp trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 210 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trong khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Các địa phương cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách, mô hình đào tạo nghề; thực hiện công tác tuyển sinh, tư vấn học nghề, việc làm đối với người lao động, nhất là lao động nữ nông thôn. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo; đa dạng, linh hoạt các chương trình đào tạo, hình thức đào tạo; gắn chặt chẽ với doanh nghiệp, đào tạo theo yêu cầu, theo đặt hàng của doanh nghiệp…

Báo cáo Điều tra Lao động Việc làm quốc gia mới nhất (năm 2016) cho thấy, tỷ lệ nữ giới có việc làm thấp hơn 9% so với nam giới. Khoảng cách về giới đặc biệt rõ nét khi xét về khía cạnh loại hình công việc. Nhiều phụ nữ phải làm những công việc dễ bị tổn thương (công việc không ổn định và ít có bảo hiểm xã hội) hơn so với nam giới. Trong năm 2016, tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương ở nữ giới cao hơn nam giới tới 12,4%.Trong nhóm lao động làm công ăn lương, thu nhập từ việc làm hàng tháng trung bình của nam giới cao hơn phụ nữ 10,7% (5,3 triệu đồng so với 4,7 triệu đồng).

Nguyễn Hưng