Bản in

Thời sự

Thứ Hai, 1/4/2019 12:17

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm: Đâu là nguyên nhân?

 Đại diện Bộ Tài chính cho rằng năm 2019 dự báo sẽ lặp lại kịch bản của các năm trước, đó là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ khó đạt mục tiêu đề ra. (Ảnh minh họa) Đại diện Bộ Tài chính cho rằng năm 2019 dự báo sẽ lặp lại kịch bản của các năm trước, đó là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ khó đạt mục tiêu đề ra. (Ảnh minh họa)

GD&TĐ - Bên cạnh sự lúng túng của doanh nghiệp thì việc nhà đầu tư không mấy mặn mà với cổ phần các doanh nghiệp chào bán được xem là những nguyên nhân chính dẫn đến việc chậm tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Quy mô quá lớn, thoái vốn lúng túng

Số liệu của Bộ Tài chính công bố mới đây cho thấy, trong năm 2018, đã có 23 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 31.706 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 16.739 tỷ đồng.

Tổng vốn điều lệ theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt là 20.278 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 12.118 tỷ đồng, bán cho nhà đầu tư chiến lược 2.540 tỷ đồng, đấu giá công khai 5.429 tỷ đồng, số còn lại bán cho người lao động là 179 tỷ đồng và tổ chức công đoàn 7 tỷ đồng.

Lũy kế giai đoạn 2016 – 2018, đã có 159 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 442.275 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 206.024 tỷ đồng. Năm 2018 đã có 28 doanh nghiệp thực hiện bán cổ phần lần đầu với giá trị cổ phần bán ra là 13.950 tỷ đồng, thu về 21.827 tỷ đồng.

Về thoái vốn, năm 2018, các doanh nghiệp đã thoái được 8.640 tỷ đồng, thu về 19.618 tỷ đồng, trong đó thoái vốn nhà nước tại 54 doanh nghiệp đạt giá trị 1.707 tỷ đồng, thu về 3.327 tỷ đồng, thoái vốn nhà nước tại 3 doanh nghiệp không thuộc danh sách tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg có giá trị 334 tỷ đồng, thu về 404 tỷ đồng. Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thực hiện thoái 6.598 tỷ đồng, thu về 15.887 tỷ đồng. Như vậy, lũy kế giai đoạn 2016 – 2018, cả nước đã thoái được 22.064 tỷ đồng, thu về 165.956 tỷ đồng.

Cũng theo Bộ Tài chính, năm 2018 theo kế hoạch sẽ phải cổ phần hoá 64 doanh nghiệp, tuy nhiên đến hết năm mới, chỉ cổ phần hoá được 23 doanh nghiệp. Việc chậm tiến độ sẽ tạo áp lực sang năm 2019. Cụ thể, năm 2019 theo kế hoạch là cổ phần hoá 19 doanh nghiệp, nhưng sẽ phải cộng dồn thêm 40 doanh nghiệp chưa cổ phần hoá xong năm 2018.

Cụ thể, năm 2017 cổ phần hóa 44 doanh nghiệp, năm 2018 cổ phần hóa 64 doanh nghiệp, năm 2019 cổ phần hóa 18 doanh nghiệp và năm 2020 cổ phần hóa 1 doanh nghiệp.

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, việc triển khai cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp còn rất chậm, chưa đạt kế hoạch đề ra. Lý do khách quan của việc chậm cổ phần hóa là do những doanh nghiệp này có quy mô lớn, quản lý nhiều tài sản Nhà nước, đặc biệt là đất đai.

Tỷ dụ như MobiFone đang phải giải quyết xong thương vụ mua cổ phần AVG thì mới cổ phần hóa được. Hay như ngân hàng Agribank, tuy Bộ Tài chính đã có hướng dẫn rà soát đất đai nhưng vì quy mô quá lớn nên đến nay, Agribank vẫn chưa rà soát, đưa ra được phương án sử dụng đất cụ thể.

Nhiều doanh nghiệp trong quá trình thoái vốn còn lúng túng, đầu tư các dự án bất động sản rồi thua lỗ nên không dễ để thoái các khoản vốn tại đây. Thời gian qua, Tổng công ty Thép muốn thoái vốn ở dự án gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 nhưng do có tranh chấp, đến nay vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm nên việc cổ phần hóa doanh nghiệp này vẫn giậm chân tại chỗ.

Cổ phần hóa xong nhưng ế ẩm

Thực tế cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp vướng mắc về mặt pháp lý nên còn lúng túng, thì nhiều trường hợp doanh nghiệp đã cổ phần hóa xong nhưng lại rơi vào cảnh ế ẩm vì nhà đầu tư không mấy mặn mà với những cổ phần được cho là kém hấp dẫn này. Đơn cử như vừa qua, dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam đã đấu giá đến 4 lần nhưng vẫn không có nhà đầu tư nào mua vì giá bán lên đến 1.000 tỉ đồng, trong khi dự án lại không hoạt động.

Rõ ràng, doanh nghiệp muốn bán cổ phần thì trước hết cần phải xử lý vấn đề tồn tại về tranh chấp pháp lý giữa nhà thầu, chủ đầu tư. Song quan trọng nhất là các dự án thoái vốn phải đảm bảo nguyên tắc đúng pháp luật, công khai minh bạch, theo thị trường.

Nhận xét về điều này, TS Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế Bộ Tài chính cho rằng nguyên nhân sâu xa của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm là do cơ chế vận hành. Công cuộc tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước đến nay đã 20 năm những vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn do cách vận hành “không giống ai”.

Bản chất sở hữu doanh nghiệp trên thế giới chủ yếu tồn tại hai hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân, nhưng ở Việt Nam, sở hữu doanh nghiệp hậu cổ phần là hỗn hợp nên không thể “copy” các kỹ năng của thế giới để áp dụng được. Do đó, các doanh nghiệp nhà nước ngay cả khi đã cổ phần hóa thì vẫn “bình mới, rượu cũ”.

“Đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hoá, nhà nước vẫn giữ tỷ lệ vốn lớn 30%, 50%, thậm chí là 90%, tức là nắm giữ và chi phối mọi mặt hoạt động, vẫn giữ bộ máy ấy, lãnh đạo ấy và con người ấy nhưng được gọi tên là cổ phần hóa. Như vậy thì cổ phần chào bán sẽ không hấp dẫn được nhà đầu tư.

Bởi nhà đầu tư tiềm năng khi họ mua các cổ phần của các doanh nghiệp này là họ xác định cuộc chơi dài hạn, họ phải có quyền quyết định và hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro, song thời gian qua chúng ta lại không làm được điều này”, ông Ánh nhận xét.

Trong khi đó, GS Trần Văn Thọ, thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Chính phủ cho rằng, vấn đề an toàn “hậu cổ phần hóa” là rất đáng lo lắng. Hiện nay quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa đi liền với nâng cao năng lực của các doanh nghiệp tư nhân, điều này dẫn đến việc cổ phần hóa doanh nghiệp có thể sẽ vẫn khiến kinh tế Việt Nam lệ thuộc bên ngoài vì các đối tượng mua cổ phần bán ra là các tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài.

“Tôi nhận thấy doanh nghiệp nhà nước chưa có sự chuẩn bị và doanh nghiệp tư nhân trong nước thì cũng chưa đủ mạnh để đáp ứng được điều này, nên còn rất lúng túng”, GS Trần Văn Thọ nói.

Vũ Khánh