Thứ 4, Ngày 7 Tháng 8 năm 2019

Thơ tình cho vợ của những thi sĩ nổi tiếng

Nguyễn Văn Luyện - 14/03/2020, 08:23 GMT+7 | Văn hóa
Tình yêu là đề tài sâu rộng cho các thi nhân thể hiện tài năngTình yêu là đề tài sâu rộng cho các thi nhân thể hiện tài năng

Tấm lòng “Thương vợ” của nhà nho Trần Tế Xương

Mấy nghìn năm trước, triết gia cổ đại Hy Lạp Hypocrat quan niệm: “Nghệ thuật thì dài mà cuộc đời thì ngắn”. Chân lý ấy có lẽ rất đúng với đời và thơ Trần Tế Xương. Cuộc đời ông vẻn vẹn được ba mươi bảy mùa xuân, thế nhưng thi ca ông để lại có sức sống bất diệt. Sức sống ấy không chỉ đến hôm nay mà cả mai sau. Đọc thơ ông Tú người ta dễ dàng nhận thấy cái chất trào phúng hòa cùng âm điệu trữ tình. Bên cạnh tiếng cười châm biếm, đả kích đôi khi quyết liệt đầy mai mỉa vẫn là những nỗi niềm tâm sự lắng sâu.

Trong cả trăm bài thơ của Trần Tế Xương lưu lại với đời, chắc hẳn người ta yêu nhất là bài thơ “Thương vợ”. Bởi lẽ, đó không chỉ là tấm lòng yêu thương, biết ơn chân thành ông Tú dành cho người vợ tảo tần, mà còn là thi phẩm đặc sắc ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam lấp lánh từ ngàn xưa cho đến hôm nay:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!

“Trán thi sĩ chạm mây, nhưng ruột thơ lại cháy lên một ngọn lửa đời rất ấm” (Xuân Diệu). Ngọn lửa đời ấy của Trần Tế Xương có lẽ là tình yêu thương vợ sâu nặng. Tình yêu thương sâu nặng giúp ông thấu hiểu bao nhọc nhằn vất vả của bà Tú. “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ bảy chữ, hai chữ được dùng nói về công việc: Buôn bán. Nặng nhọc chứ chẳng chơi. Công việc càng vất vả hơn khi gắn với thời gian: Quanh năm.

Chẳng quản đông hay hè, mưa hay nắng, năm này nối tiếp năm kia, liên tục và liên tục. Đôi đòn gánh trên vai, chợ hôm chợ huyện gánh gồng, đầu tắt mặt tối, chả mấy khi được ngơi nghỉ. Công việc của bà Tú khó nhọc đã đành, nhưng còn tiềm ẩn cả nguy hiểm nữa. Hai chữ “mom sông”, chỉ địa thế chênh vênh, nơi đầu sóng ngọn gió nói lên tất cả những bất trắc luôn rình rập. Thương vợ, ông Tú hiểu rõ, hiểu thấu bao nhọc nhằn của người vợ mến yêu. Câu thơ có cả niềm thương và những niềm lo.

Công việc lặn lội, vất vả, bon chen “khi quãng vắng”, “buổi đò đông” cũng bởi gánh nặng gia đình đặt trên đôi vai người vợ. Ông Tú hiểu và nói rõ trong câu thơ độc đáo này: “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý. Từ “đủ” trong “nuôi đủ” vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng. Đọc câu thơ, người ta hiểu được bà Tú đặt trọn trên đôi vai nhỏ bé của mình gánh nặng gia đình.

Cách đếm số “năm con - một chồng” thật đắc địa. “Năm” là số nhiều, “một” là số ít. Nhiều mà lo liệu cho đàn con dại đã khổ, song ít mà chu tất với ông chồng cả đời hết học lại thi như ông Tú càng khó hơn. Có lẽ, ám ảnh về cuộc đời vất vả sớm hôm của bà Tú càng da diết hơn khi nhà thơ nhắc đến hình ảnh “thân cò”. Câu thơ da diết một nỗi đau thân phận, cuộc đời này còn nhiều lắm những bà Tú vất vả sớm khuya. Tấm thân có dầu dãi ấy luôn ám ảnh bao đời về kiếp sống nhọc nhằn của phận người phụ nữ như bà Tú.

Nghệ thuật đảo ngữ, hình ảnh thơ mang màu sắc dân gian, phép tiểu đối được sử dụng đắc địa góp phần truyền tải ý thơ. Sau những câu chữ là tấm lòng yêu thương tha thiết, sự thấu hiểu với bao vất vả nhọc nhằn. Mấy câu thơ nói thực cảnh của bà Tú cũng như cả thực tình của ông Tú. Bà khó nhọc, ông trân trọng, yêu thương và cả sự biết ơn.

Thương vợ, hiểu muôn trùng những vất vả gian truân mà bà Tú trải qua, đáng quý biết bao ở một tấm lòng thành. Tình thương ấy kết thành ngợi ca. Bởi thế, ẩn sau mỗi vần thơ ông Tú viết là bóng dáng người vợ đảm đang, tháo vát, tảo tần chẳng quản nắng mưa, miễn trong ấm ngoài êm. Phẩm chất cao đẹp, đức hi sinh tuyệt vời của bà Tú được nhà thơ gửi gắm:

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Vợ chồng xưa nay lấy nhau vị tình, sống với nhau vị nghĩa. Tình chóng phai, nghĩa vững bền như muối mặn gừng cay. Thế nên, duyên chỉ một, mà nợ gấp đôi, thậm chí nhiều hơn. “Một duyên, hai nợ, âu đành phận”. Duyên ông Tơ, bà Nguyệt se chỉ hồng, nợ thực chất là gánh nặng bổn phận với gia đình sao nặng lắm thay. Ba chữ “âu đành phận” nghe thật nhói lòng.

Hình như đó là cái thở dài chấp nhận số phận cuộc đời. Ca thán làm chi? Mưa nắng cũng chẳng quản công. Sau lời thơ nghẹn đắng ấy là một trái tim vị tha, đức hi sinh đẹp đẽ của người mẹ hiền vợ tảo. Thương vợ, Trần Tế Xương nói thay nỗi lòng của bà. Chan chứa nỗi niềm, da diết yêu thương. Vần thơ ấy làm vút cao đức hạnh người phụ nữ hiền thục, giàu tình yêu thương và đức hy sinh.

Và càng thương vợ bao nhiêu, nhà nho Trần Tế Xương càng thấy đau cho mình bấy nhiêu:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!

Ông quan “ăn lương vợ”, học rồi thi cả đời bận bịu. Ấy thế chỉ đỗ mức Tú tài. Ước nguyện “bảng vàng cho vang mặt vợ” chẳng bao giờ thành hiện thực. Cay lắm chứ! Chỉ tại thói đời! Tiếng chửi đời cay xót làm sao! Chửi đời mà cũng chửi cả mình. Chửi ông chồng vô tích sự, chẳng làm nên cơm cháo, khiến người phụ nữ yêu thương ngán thân, tủi phận, “Có chồng hờ hững cũng như không”. Tiếng chửi đời chua xót bởi xuất phát từ thương vợ mà ghét mình. Đó là tiếng chửi làm nên nhân cách một nhà nho chân chính. Không đạo mạo, rất đời thường.

Nhiều khi đọc thơ Trần Tế Xương, người ta nghĩ giọng điệu trào phúng, lấn át âm điệu trữ tình. Thế nhưng, đọc kĩ bài “Thương vợ” rồi mới thấy, trữ tình vẫn là âm chủ trong bản tình ca chan chứa yêu thương. Thương vợ, tri ân, biết ơn tấm lòng, đức hy sinh âm thầm của vợ. Và càng thương, nhà thơ càng giận, càng đau nỗi đau cuộc đời, nhân tình thế thái. Bài thơ, dường như vừa là lời yêu thương, vừa là lời sám hối, uất cho vợ, căm mình và cả đau cho mình của nhà thơ đất Vị Xuyên ngày nào.

Nỗi niềm “Nhớ vợ” của chàng lính trẻ trong thơ Cầm Vĩnh Ui

Cầm Vĩnh Ui là bút danh khác của nhà thơ Cẩm Giang (1931 - 1989). Ông sinh ngày 2/5/1931 tại xóm 3, thôn Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, Hoằng Hoá, Thanh Hoá, ở tại thôn Khách Nhi, xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. “Nhớ vợ” là bài thơ vô cùng độc đáo, vang danh mấy mươi năm nay của ông.

Bài thơ mở đầu bằng một lời xin phép rất thành thực của một người lính trẻ với cấp trên, nhớ vợ, xin được về thăm vợ, không nhiều chỉ hai ngày thôi. Chẳng úp mở, vào đưa ra đón, lời tỏ bày rất thành thực: “Tôi nhớ vợ tôi lắm. Xin được về hai ngày. Nhà tôi ở Mường Lay. Có con sông Nậm Rốm”. Sau lời xin phép, anh lính trẻ tiếp tục đưa ra vô số những hứa hẹn để thuyết phục cấp trên đồng ý. Lời lẽ hình như cứ tăng dần cấp độ, giống như kiểu nằn nì cho đến kì được mới thôi.

Ngày kia tôi sẽ đến

Lại cầm súng được ngay

Tôi càng bắn đúng Tây

Vì tay có hơi vợ

Thì ra, anh lính xin về thăm vợ có nhiều đâu, nay mai thôi, ngày kia sẽ lại có mặt ở đơn vị. Khi ấy, hiệu quả “cầm súng” tốt hơn nhiều, “càng bắn trúng Tây” vì “tay có hơi vợ”. Cách nói có phần dí dỏm, có lẽ anh chàng vừa nói, cũng vừa gãi đầu cười tủm tỉm. Chắc hẳn, cấp trên của anh vẫn còn do dự, thế nên người lính trẻ vẫn kiên trì thuyết phục. Vẫn là lí do rất đời, độc nhất vô nhị làm sao:

Cho tôi đi, đừng sợ

Tôi không chết được đâu

Vì vợ tôi lúc nào

Cũng mong chồng mạnh khỏe

Cho tôi đi anh nhé

Về ôm vợ hai đêm

Vợ tôi nó sẽ khen

Chồng em nên người giỏi

Nhớ vợ, xin được về “ôm vợ hai đêm”, anh chàng này có lẽ khôi hài lắm lắm. Khôi hài mà chân thực. Chân thực với mong ước đạt nguyện vọng, về thăm vợ cho thỏa nhớ thương. Chuyện vợ chồng khéo léo đưa vào thơ, xưa nay chả ai dám nói. Lời lẽ thật tự nhiên, chắc có lẽ anh cán bộ cấp trên chẳng thể từ chối lời đề nghị thấu lý, thấu tình của anh lính trẻ. Cả năm khổ thơ đầu 100 chữ, mục đích chỉ có vậy, xin phép, thuyết phục để được về thăm vợ. Tất cả hội tụ ở đoạn kết ấn tượng, bộc lộ một tấm lòng thành của người chồng với hậu phương của mình:

Nếu có được trên tặng

Cho một cái bằng khen

Tôi sẽ rọc đôi liền

Gửi cho vợ một nửa.

Chiến tranh binh lửa, người đàn ông ra trận, tuyến đầu cầm súng đánh giặc. Công việc gia đình đặt cả hai vai người vợ trẻ. Vất vả trăm bề. Thế nên, người lính trong bài thơ nói rất thật lòng mình, sau khi được về thăm vợ, được khích lệ, động viên, lập được công trạng, được bằng khen sẽ “rọc đôi liền”, “Gửi cho vợ một nửa”. Đó là hành động tri ân, chân thành, đáng quý, kết tinh của một trái tim yêu. Mở đầu là câu chuyện tình yêu, xa nhà, nhớ vợ xin phép được về thăm vợ, kết thúc là chuyện tình nghĩa, đền đáp ân tình dành cho những toan lo nhọc nhằn của vợ nơi quê nhà giúp mình yên tâm cầm súng. Có lẽ bởi thế mà bài thơ giản dị, hóm hỉnh mà luôn ám ảnh trong trái tim bạn đọc bấy lâu nay.

 Trần Tế Xương, Cầm Vĩnh Ui, Khương Hữu Dụng gặp nhau tấm lòng yêu thương, mến phục, tri ân dành cho người phụ nữ 
của mình

Mong ước thành thực của lão thi nhân Khương Hữu Dụng

“Khương Hữu Dụng (1907 - 2005) là nhà thơ có đời thơ nối từ đầu thế kỷ trước sang đầu thế kỷ này. Bắt đầu từ Thơ Mới, thơ ông trải qua hai cuộc kháng chiến cùng dân tộc, đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng bạn yêu thơ”. Bài thơ “ Nhớ” được ông viết vào năm 1988, khi đó nhà thơ đã ở tuổi bát tuần. Không đắm say lãng mạn như thời trai trẻ, bài thơ là lời kể chân thực, hóm hỉnh của một ông lão mà sâu thẳm yêu thương:

Em luôn miệng cằn nhằn

Kêu mưa rồi trách nắng

Ước gì em đi vắng

Được một ngày yên thân

Em vĩnh viễn ra đi

Mênh mông nhà lạnh vắng

Ước gì nghe em mắng

Vui tiếng em cằn nhằn

Tinh ý một chút, người đọc sẽ nhận thấy đôi điều thú vị, bất ngờ. Bài thơ có hai điều ước với sắc điệu ngược nhau hoàn toàn. Điều ước thứ nhất thành thực vô cùng “Ước gì em đi vắng”. Ước vậy để được gì? “Yên thân”. Phải rồi, tuổi già ương ngạnh, nhiều khi hay làm trái ý nên bà vợ “luôn miệng cằn nhằn”, “kêu mưa trách nắng”. Nào là ông nghỉ ngơi đúng giờ, nào là ông làm việc ít thôi, chịu khó bớt rượu, bớt trà đi... và còn nhiều lý do khác nữa.

Chắc hẳn đây là một bà vợ hết lòng quan tâm chăm lo đến sức khỏe của chồng nên thành thử nói nhiều, nói đi nói lại đến nỗi ông chồng già ngán ngẩm, chỉ mong em đi xa đâu đó, để “Được một ngày yên thân”. Có lẽ, bốn câu mở đầu là mong ước chân thật, không phải ỡm ờ gì cả. Thực tế là vậy mà nhà thơ cũng nói thật suy nghĩ, nỗi lòng của mình. Ý thơ chân thực mà pha chút hóm hỉnh, hài hước đến lạ.

Điều ước thứ hai mới độc và lạ. “Ước gì nghe em mắng. Vui tiếng em cằn nhằn”. Cái khó chịu, ngao ngán hôm qua thành mong ước tha thiết của hôm nay. Nhưng không thể được nữa rồi! “Em vĩnh viễn ra đi”. Lời thơ ngậm ngùi, rưng rưng về một mất mát chẳng thể nào bù đắp được. Tiếng cằn nhằn, quở trách trở thành mong ước xa vời. Hiện tại chỉ một nỗi lòng trống trải cô đơn. Ngôi nhà xưa lạnh vắng, thiếu mất hơi người, thiếu cả lời “em mắng” đáng yêu ngày nào.

Đúng là gần nhau cảm thấy bình thường, xa nhau thì lại yêu thương dạt dào. Và khi xa mãi thì đó là mất mát, nỗi đau đâu dễ bù đắp. Giọng thơ hóm hỉnh, nhường chỗ cho giai điệu trữ tình. Giai điệu ấy vút lên bởi một tấm lòng yêu thương đong đầy. Nỗi nhớ mong biết bao giờ nguôi ngoai. Bài thơ khép lại mà ám ảnh người đọc bởi một tấm ân tình đậm sâu. Tấm lòng yêu thương vợ của ông lão tám mươi, giản dị mà chân thành.

Khương Hữu Dụng bên cạnh việc làm thơ, ông còn dịch cả nghìn bài Đường thi nổi tiếng. Mỗi câu, mỗi chữ trong thơ Đường đều đạt đến sự cổ điển, cô đọng, lời ít ý nhiều. Có lẽ việc dịch thơ người đến sáng tác thơ mình của Khương Hữu Dụng có sự ảnh hưởng qua lại. Thế nên bài “Nhớ” ông viết giản dị mà sâu lắng. Tứ thơ tròn trịa, điều muốn thổ lộ thì bộc bạch được cả. Có lẽ cái hay của thi phẩm được kết lại bởi hai yếu tố. Lời thơ dung dị mà chan chứa nỗi niềm, đủ đầy cung bậc, hờn trách, mến thương và cả xót đau, trống trải cô đơn. Đúng là “thơ hay ngắn ở ngôn từ mà dài ở sự ngân vang”.

Đời là bể khổ, nhân gian nước mắt bao giờ cũng nhiều hơn nụ cười. Chắc hẳn, người mẹ, người vợ luôn luôn phải chịu nhiều thua thiệt hơn cả. Song đâu phải, ai cũng được thấu cảm, yêu thương. Bởi thế, người ta trân trọng lắm những vần thơ chắt ra từ tấm ân tình của những ông chồng – thi sĩ. Sinh bất phùng thời, thế nhưng, ở Trần Tế Xương, Cầm Vĩnh Ui, Khương Hữu Dụng gặp nhau ở một tấm lòng yêu thương, mến phục, tri ân dành cho người phụ nữ của mình. Có lẽ, những bài thơ giá trị ấy sẽ góp thêm vào vườn thơ dân tộc những tứ thơ hay viết về vợ, một nửa yêu thương trong cuộc đời mỗi người.

Sau mỗi lời thơ, là tha thiết một tấm lòng yêu thương, mến phục, biết ơn dành cho người vợ đáng yêu, đáng kính. Thương vợ (Trần Tế Xương); Nhớ vợ (Cầm Vĩnh Ui); Nhớ (Khương Hữu Dụng) thuộc diện những thi phẩm “xưa nay hiếm” viết về vợ giản dị, pha chút hóm hỉnh mà da diết ân tình, được bạn đọc mến yêu.
Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự

Xem thêm

Xem thêm