Bản in

Thế giới

Thứ Năm, 29/3/2018 08:38

Kỳ II:

Số phận những nhà khoa học phát xít sống sót sau chiến tranh

Số phận những nhà khoa học phát xít sống sót sau chiến tranh

GD&TĐ - Walter Schieber là “người chơi chính” trong các sản phẩm được sáng chế và sản xuất của Đế chế thứ III trong thời chiến. Những kinh nghiệm của ông thời trước chiến tranh trong lĩnh vực dệt vải đã biến nhà khoa học này trở thành một công cụ đắc lực cho đảng Xã hội dân tộc.

Walter Schieber

Năm 1943, ông được Hitler trao tặng Mề đay Chiến tranh. Schieber bị quy là tội phạm chiến tranh phát xít do các mối quan hệ gần gũi với Heinrich Himmler và các nghiên cứu về khí gas được Đế chế thứ III sử dụng trong chiến tranh. Sau cuộc chiến, Schieber lọt vào “mắt xanh” của Charles Loucks, một viên tướng trong tập đoàn Hóa chất Quân đội Mỹ. Louchs được cử tới thành phố Heidelberg ở Đức để làm việc cho kế hoạch phát triển hóa chất thần kinh như khí gas tabun và sarin. Phớt lờ quá khứ của Schieber, Loucks đã đưa tội phạm chiến tranh phát xít này về Mỹ.

Schieber làm việc cho tập đoàn Hóa học Quân đội Mỹ 10 năm và sau này trở thành một “tài sản” quý giá của CIA. Kể từ khi trở thành người có ích cho chính phủ Mỹ, Schieber không bao giờ bị đưa ra tòa vì những tội ác của mình. Thực tế, ông đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất khí độc sarin mà sau này quân đội Mỹ đã sử dụng.

Hubertus Strughold

Được biết đến với biệt danh “Cha đẻ của dược phẩm vũ trụ”, Hubertus Strughold đã giúp Lực lượng Không quân Mỹ và NASA phát triển nhiều nguyên tắc chăm sóc y tế trong không gian và vẫn có hiệu lực đến tận ngày nay.

Trong nhiều năm, Hiệp hội Y tế vũ trụ (AsMA) đã trao giải thưởng hàng năm mang tên Strughold cho các cống hiến hàng đầu trong lĩnh vực y tế vũ trụ. Nhưng kể từ khi những nghi vấn về mối liên hệ giữa Strughold với tội phạm chiến tranh phát xít nổi lên, AsMA đã xóa tên của Strughold khỏi giải thưởng này.

Trong sự nghiệp kéo dài của nhân vật này ở Mỹ với tư cách một nhà khoa học danh tiếng, Strughold đã phủ nhận bất tội lỗi về tội phạm chiến tranh do phát xít gây ra. Tuy nhiên, Strughold đã bị dính líu trong các phiên tòa Nuremberg vì liên quan đến các tội ác diệt chủng ở Dachau. Năm 1942, Strughold cũng đã phát biểu một cách chi tiết trong một hội thảo về các thử nghiệm “máu lạnh” khét tiếng của phát xít.

Được các sinh viên và đồng nghiệp vô cùng yêu mến, nhiều người khó có thể tin rằng, Strughold đã dối trá về sự tham gia của mình trong các thử nghiệm phi nhân tính của phát xít lên con người. Nhưng các bằng chứng đều cho thấy những kiến thức sâu rộng của Strughold trong việc duy trì cuộc sống của con người trong vũ trụ phần nào đã được tích lũy từ những thử nghiệm liên quan đến sự sống của con người dưới thời phát xít.

(Còn tiếp)

Trần Kiều Phong