Bản in

Khỏe - Đẹp

Thứ Hai, 9/4/2018 00:15

Tác dụng thần kỳ của dịch truyền tĩnh mạch

Tác dụng thần kỳ của dịch truyền tĩnh mạch

GD&TĐ - Dịch tĩnh mạch (IV) là một trong những biện pháp can thiệp y khoa thông dụng nhất trên thế giới. Một số loại dịch có sẵn, trong đó có loại nước muối bình thường là thứ phổ biến nhất. 

Chính vì khả năng điều trị phổ biến này mà nhiều người nghĩ rằng nước muối đã được nghiên cứu kỹ và tinh chế phức tạp. Thực ra chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về dịch nước muối. Giờ đây mới chính thức là có những nghiên cứu bước đầu về nó.

Dung dịch muối thường

Chất dịch truyền tĩnh mạch (IV) được phát minh ở Anh vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ 19 dùng để trị bệnh dịch tả, mà sau đó căn bệnh này được thừa nhận là một dịch bệnh chết người do làm cơ thể bệnh nhân mau hết nước.

Những bác sĩ đầu tiên biết rằng máu người là muối, và một bác sĩ người Scotland tên là Latta đã phát minh ra một dung dịch nước muối nguyên sơ nhằm thay thế cho những gì bị mất mát trong các tĩnh mạch.

Hiệu chứng chữa bệnh thật phi thường, theo công bố của tạp chí khoa học danh tiếng The Lancet vào năm 1832. Vào thập niên 1880, các nhà khoa học đã biết nhiều hơn về các nhân tố hóa học căn bản trong máu người.

Một nhà sinh lý học người Anh tên là Sidney Ringer (1835 - 1910) đã phát minh ra một thứ dung dịch có chứa natri, kali và clorua được cô đặc sệt sệt hệt như máu người.

Thứ dung dịch này vẫn được dùng đến tận ngày nay, chúng ta gọi nó là dung dịch Ringer. Nhưng dung dịch Ringer tác dụng chậm chạp, vì thế đã có một dung dịch muối đơn giản hơn đã ra đời (được biết đến dưới cái tên nước muối thường) và trên thực tế nó dùng làm dung dịch truyền tĩnh mạch (IV) vào đầu thế kỷ 20.

Dung dịch IV là hậu thế của dung dịch buổi đầu Latta, thứ nước muối phổ biến này chỉ có đúng 2 thành phần là muối và nước. Nguồn gốc của nước muối thường có từ một nghiên cứu hồi năm 1883 bởi một nhà khoa học Hà Lan tên là Hamburger.

Nghiên cứu của ông Hamburger như một gợi ý sai lầm rằng lượng muối trong máu người là khoảng 0,9%. Hamburger lập luận rằng một giải pháp có nồng độ như nhau chính là thành phần “bình thường” của các loại dung dịch truyền tĩnh mạch, vì thế đó là tên gọi của nó.

Ngạc nhiên thay, loại dung dịch muối thường làm nên dịch IV dường như chỉ dựa vào những thí nghiệm ban đầu của Hamburger. Một nhóm các bác sĩ người Anh đã viết vào năm 2008 lưu ý về sự vắng mặt của dữ liệu thí nghiệm khác để hỗ trợ cho nghiên cứu của Hamburger, rằng: “Dung dịch muối thường vẫn giữ nguyên vẻ bí ẩn của nó khi dùng làm dịch IV. Có lẽ vì nó dễ dàng, tiện lợi, giá rẻ với nhiều muối hòa chung với nước”.

Sau rốt, nước muối thường không hề bình thường chút nào. Lượng Natri trung bình trong một cơ thể bệnh nhân khỏe mạnh là 140 (được đo bằng dụng cụ milliequivalent/lít). Đối với lượng clorua là khoảng 100.

Nhưng việc tập trung cả Natri và Cloria trong dung dịch muối thường là 154. Xem ra khá bất thường, nhất là với lượng Clorua. Không ai để ý tới sự bất thường này cho mãi đến thập niên 1980 khi các nhà nghiên cứu bắt đầu điều tra về những nồng độ cao của Clorua có thể sinh ra tác dụng phụ.

Vào năm 1983, một nhà khoa học đã cho thấy rằng hàm lượng Clorua tăng cao có thể làm giảm lưu lượng máu ở thận con chó, gây ra sự phá hoại hoặc thậm chí là suy thận.

Và đến thập niên 1990, các nhà khoa học đã cho thấy rằng lượng Clorua cao trong dung dịch nước muối thường có thể khiến máu chua, một sự thay đổi như vậy có thể làm phá vỡ tất cả các quy trình sinh hóa trong cơ thể.

Liệu các thay đổi này đã ảnh hưởng đến bệnh nhân ra sao? Những nỗ lực nghiêm túc để trả lời cho câu hỏi đó đã được tiến hành trong khoảng 10 năm đổ lại đây.

Tiềm năng cứu mạng bằng dịch bù Ringer

Nỗ lực đầu tiên đã được tiến hành vào năm 2012. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành xét nghiệm dữ liệu của các bệnh nhân – những người nhận nước muối hay các dung dịch cân bằng như dung dịch bù Ringer trong suốt quá trình phẫu thuật, và so sánh các biến chứng và tử vong giữa các nhóm.

Các kết quả thật quá đỗi ngạc nhiên: tỷ lệ tử là 2,7% cao hơn ở những người nhận dung dịch muối thường, và các biến chứng cũng xuất hiện phổ biến hơn. Cùng năm 2012, các bác sĩ Australia đã cho thấy rằng những bệnh nhân được chăm sóc đặc biệt (ICU) nhờ được cung cấp dịch giàu Clorua lại có thể làm tăng gấp đôi tổn thương thận so với những bệnh nhân sử dụng các dịch cân bằng.

Khoảng năm 2013, một nghiên cứu cho thấy rằng có sự gia tăng tỷ lệ tử vong và nằm viện lâu hơn trong số các bệnh nhân phẫu thuật nhận dung dịch muối thường.

Và năm 2014, các nhà nghiên cứu tại Đại học Duke (Durham, Bắc Carolina, Mỹ) đã phát hiện rằng những bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết sẽ tăng 3% tỷ lệ tử vong khi được điều trị bằng dung dịch muối hơn là các dịch cân bằng.

Tất cả những thí nghiệm này ban đầu đều có những hạn chế và không có dạng thử nghiệm ngẫu nhiên, những thử nghiệm lâm sàng nhằm đại diện cho tiêu chuẩn vàng của tính chân thực khoa học thật sự.

Nhưng nghiên cứu vừa được công bố trong tháng 3/2018 đăng trên tờ Thời báo y học New England có thể tạo nên cú hích, theo tác giả chính, TS Matthew Semler.

Cùng với các đồng nghiệp ở Đại học Vanderbilt (Nashville, Tennessee, Mỹ), ông Semler đã nghiên cứu trên 15.000 bệnh nhân ICU được nhận ngẫu nhiên dung dịch muối thường hay các dịch cân bằng như dung dịch bù Ringer, và phát hiện ra rằng những ai ở nhóm sau (dung dịch Ringer) có một chút kết quả tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu đo các tỷ lệ tử vong, nhu cầu chạy thận hay các vấn đề thận mãn tính, kết quả là 14% bệnh nhân nhận các dịch cân bằng đã có tiến triển so với khoảng 15% bệnh nhân dùng dung dịch muối thường. Tầm quan trọng của sự khác biệt tỷ lệ 1% này là gì?

TS Matthew Semler cho hay: “Với 2 giải pháp có sẵn như nhau, bằng nhau về chi phí và hàng triệu người trưởng thành đón nhận chúng mỗi năm, 1% là một điềm tốt lành.

Chúng ta may mắn để có thể cải thiện tỷ lệ tử vong chỉ bằng 1% so với dùng thuốc đắt tiền, trong khi truyền dịch chỉ tốn đúng 2 USD. Mỗi năm có khoảng 5 triệu bệnh nhân phải vào khu chăm sóc đặc biệt (ICU) tại Mỹ.

Cứ mỗi 100 bệnh nhân trong số đó được điều trị bằng các dung dịch cân bằng thay vì nước muối thông thường thì sẽ có ít bệnh nhân đối mặt với cửa tử, hay phải chạy thận mới, hoặc các vấn đề thận mãn tính”.

Đó quả là tin rất vui, nếu quý vị nghĩ đến con số 125 bệnh nhân phải dùng thuốc giảm huyết áp trong suốt 5 năm để phòng ngừa một cơn đột quỵ gây tử vong; hoặc hơn 1.600 bệnh nhân khỏe mạnh phải uống thuốc aspirin nguyên năm để ngừa đau tim.

TS Matthew Semler lạc quan nói: “Bởi vì hàng chục triệu bệnh nhân nhận chất dịch truyền tĩnh mạch mỗi năm tại Mỹ, thế nên chỉ cần thay đổi khái niệm dùng dung dịch muối thường sang các dung dịch cân bằng thì cũng có tiềm năng thay đổi lượng lớn số phận bệnh nhân, nó tốt hơn vạn lần các loại thuốc mới”.

NGUYỄN THANH HẢI (Tổng hợp)