Bản in

Khoa học

Thứ Bảy, 14/9/2019 09:27

Cuộc cách mạng đào tạo bác sĩ bằng công nghệ

Sinh viên thực tập chăm sóc bệnh nhân.Sinh viên thực tập chăm sóc bệnh nhân.

GD&TĐ - Giảng viên Nancy Allen đã có cuộc trò chuyện về cách bà dùng “phòng bệnh viện giả lập” trong việc đào tạo sinh viên tại Trường điều dưỡng thuộc Đại học Clemson ở Mỹ.

Vai trò của công nghệ

Trong nhiều thập niên qua, giáo dục y khoa tại nhiều quốc gia luôn đi theo lộ trình tốn nhiều thời gian. Sinh viên phải đọc rất nhiều sách và nghe vô số bài giảng, cuối cùng là thực tập tại bệnh viện, tức là tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, bệnh án.

Nay, khi công nghệ hiện đại mở rộng sang hoạt động chăm sóc người bệnh và cho phép các nhà phẫu thuật có thể xem trước diễn biến ca phẫu thuật của mình, bằng cách sử dụng những hình ảnh ảo 3-D được xây dựng bằng các ảnh chụp scan bệnh nhân thì “lỗ hổng” giữa đào tạo nhân viên y tế và chăm sóc người bệnh trong thế giới thực đã được lấp đầy phần lớn.

“Việc học tập của sinh viên cũng thú vị hơn - Marc Triola, giám đốc Viện Sáng kiến Giáo dục y tế (Institute for Innovations in Medical Education) thuộc Trường Y N.Y.U. Langone thành lập vào năm 2013 nhận định - Hệ thống cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế đang thay đổi từng ngày nên giáo dục ngành y cũng phải thay đổi, nếu không sẽ lạc hậu”.

Giống như một cuộc rượt đuổi không thể chậm chân, nhiều trường đào tạo bác sĩ và y tá trên thế giới đang ráo riết đổi mới, cập nhật và hiện đại hoá phương pháp giảng dạy và nội dung giáo trình. Cuộc đua càng mãnh liệt hơn khi thực tế cho thấy lực lượng chăm sóc y tế, kể cả bác sĩ và y tá đang thiếu trầm trọng.

“Các nghiên cứu tại nhiều quốc gia đều báo động tình trạng thiếu hụt này, không chỉ tại các nước nghèo mà cả tại các nước giàu có cơ sở hạ tầng y tế hợp chuẩn và đội ngũ chăm sóc y tế trình độ cao - Erin Fraher, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nguồn nhân lực Y tế Carolina (Carolina Health Workforce Research Center) nói - Có gì đó đang đi chệch hướng và cần điều chỉnh lại.

Câu hỏi ở đây là: Chúng ta đã xác định được cụ thể nơi nào không đủ điều kiện chăm sóc cho các bệnh nhân như tiểu đường hoặc tiền sản?”.

Giảng viên Nancy Allen.

Những trợ thủ đắc lực

Chính những câu hỏi cụ thể như thế đã nói lên sự cần thiết của việc phải xem xét lại hoạt động giáo dục và đào tạo nhân lực trong ngành Y, không chỉ tăng số lượng mà cả chất lượng, và quan trọng nhất là cập nhật kiến thức, đặc biệt là kiến thức y tế gắn với công nghệ thông tin.

Phải đào tạo thêm bác sĩ và y tá về làm việc tại các cộng đồng bên ngoài những thành phố lớn, thêm số học bổng cho cho các sinh viên nông thôn vào học ngành y và tạo điều kiện cho những nhân viên y tế đang làm việc tham gia những chương trình đặc biệt nâng cao kiến thức và tay nghề.

Khi các trường Y nhận thức được tính thực tế trong đào tạo sinh viên, đi vào thực chất hơn là lý thuyết thì các công nghệ mới như thực tại ảo (virtual reality), phần mềm y tế và các mô phỏng giống thật như hình nhân (mannequin) và phương thức điều trị có vai trò rất quan trọng.

Dĩ nhiên, sinh viên cũng cần được tạo điều kiện hoặc tự mình mày mò để nắm bắt nhanh nhất các thông tin mới về y học. Dù có những lĩnh vực y tế tiến bộ chậm và không thể rút ngắn thời gian nghiên cứu thì các mẫu bệnh và mô phỏng sẽ giúp rất nhiều cho việc học tập. Đây là điều bác sĩ Greg Dorsainville, chuyên viên truyền thông phụ trách bộ phận gồm 28 người tại Viện N.Y.U đang theo đuổi.

Hợp tác với một nhà bệnh học, ông dùng camera 360 độ quay phim một buổi học dài 45 phút. Ông kết thúc sớm bài giảng để sinh viên có thời gian mang kính goggles, zoom lớn để thấy một polyp trông giống cái gì và ghi nhớ về nó như một hình ảnh sống động chứ không chỉ là một khái niệm lý thuyết.

Việc có sẵn ngoài thị trường những công cụ như kính thực tại ảo (virtual-reality goggles, giá khoảng 200 USD) cùng với thư viện phần mềm ngày càng đông đúc đã làm thay đổi mạnh sẽ cách sinh viên y khoa nói riêng và sinh viên nói chung học tập và dung nạp những nội dung có hàm lượng khoa học cao.

Nhưng quan trọng hơn nữa là công nghệ đã giúp cho việc học tập của sinh viên và được thực chất hơn, sâu sát hơn thay vì chỉ lý thuyết đơn thuần.

Cuộc đua đổi mới của các trường Y

Marlene Alfaro, sinh viên năm thứ 2 Trường Y Riverside School of Medicine thuộc Đại học California nằm trong số sinh viên đã được trải nghiệm lợi ích của VR goggles. Nhờ nó, cô có thể nhìn vào hình ảnh 3-D của trái tim và dùng bộ kiểm soát để xem rõ cấu trúc của nó.

Cô cũng có thể “mở” hình ảnh 3-D của trái tim dài 3-foot màu đỏ ruby đang đập và xem bên trong nó có gì. Có lẽ không ai muốn là vật thí nghiệm luồn ống thở xuống cổ họng nên sinh viên thường phải thực tập động tác khó này trên các bệnh nhân và phải mất nhiều năm mới thuần thạo.

Nay sinh viên có thể đưa chiếc ống vào bệnh nhân ảo một cách tự tin và chỉ sau một thời gian ngắn đã có thể thao tác trên bệnh nhân thực.

Trong nhiều thập niên trước khi có giả lập bệnh và khám bệnh với sự trợ giúp của máy tính những giảng viên y khoa thường dùng hình nhân (mannequin) để dạy sinh viên về cấp cứu CPR.

Nhưng chỉ mới đây, nhờ tiến bộ của công nghệ thông tin, sinh viên mới được trải nghiệm mô phỏng thực tế khám chữa bệnh ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Giữa thế giới ảo và thế giới thật hầu như không còn ranh giới. Vì ảo là mô phỏng của thật với kích thước và cấu trúc gần giống nhau tuyệt đối. Đó là điều mới xảy ra tại trường y tá mới xây dựng với kinh phí 31,5 triệu USD nằm trong Đại học Greenville.

Từ phía sau tấm gương hai chiều nhìn thấy sinh viên đang thực tập, các giảng viên dùng cần kiểm soát (console) để điều chỉnh nhịp đập tim bệnh nhân và phản ứng đối với trị liệu rồi dùng microphone để đưa ra những câu hỏi hay trả lời. Đối với những sinh viên chuẩn bị vào thực tập tại bệnh viện, phòng bệnh giả lập cho họ nhiều chọn lựa để áp dụng trong thực tế cũng như tìm ra cách tốt nhất để giao tiếp với các bệnh nhân trong quá trình điều trị.

Giảng viên có thể dễ dàng tạo nên những trường hợp nguy cấp như máu chảy không cầm được để hướng dẫn cách xử lý, điều mà khó có cơ hội được hướng dẫn trong thực tế.

Phòng bệnh giả lập tại Đại học Clemson.

Vai trò quan trọng của “giả lập”

Một buổi thực tập điển hình trong phòng bệnh giả lập để dạy sinh viên giải quyết bài toán khi nào thì nên tiêm hay không tiêm insulin cho bệnh nhân tiểu đường. Trong phòng bệnh ảo, Sarah Davis, một bệnh nhân “hình nhân” 64 tuổi cho biết (qua lời giảng viên Alex Murrant-Johnson đứng sau tấm kính) là bà có tiền sử bệnh tiểu đường, gout và đau thần kinh ngoại vi.

Bà nói các ngón chân có cảm giác bị “cháy” và luôn luôn đói. Đường huyết trước ăn của “hình nhân” lên đến 400 trong khi bình thường phải dưới 100. Các sinh viên hỏi ý kiến bác sĩ.

Murrant-Johnson chuẩn bị insulin (chai thật nhưng bên trong là thuốc giả) rồi đếm ngược 3-2-1 trước khi tiêm vào miếng xốp (không tiêm trực tiếp vào hình nhân vì mỗi cái giá đến 100.000 USD).

Rắc rối đến một giờ sau đó khi sinh viên Hadley Greer học tại trường y tá Easley, SC phát hiện ra đường huyết của “hình nhân” Davis vẫn còn ở mức 250 cho dù mới vừa tiêm insulin. Murrant-Johnson gợi ý là “có thể phải tiêm thêm insulin nữa”.

Hai sinh viên Mollie Smith và Ashley Brewer bối rối chốc lát rồi quyết định không tiêm liều thứ 2. Murrant-Johnson đồng ý. Khi họ tập trung tại hội trường để tổng kết ca thực tập, giảng viên ngợi khen các sinh viên đã đưa ra giải pháp đúng thay vì hấp tấp.

Phải chuyển biến từ khâu đào tạo

Sinh viên Nidhiben Patel đến từ Charleston, SC cho biết nhờ thực tập trước với bệnh viện giả lập nên cô không còn lo lắng và mất tự tin khi vào bệnh viện làm việc. Dĩ nhiên, thực tập tại một bệnh viện thật sự vẫn là điều cần thiết. Vì vậy nhiều sinh viên y khoa và y tá tìm đến các bệnh viện nông thôn xa thành phố, nơi rất cần thêm nhân viên y tế.

Các sinh viên y tá học lên master tại Clemson như Kita Rhodes thuộc số sinh viên thực tập tại một bệnh viện có nhiều bệnh nhân Mỹ gốc Phi tại Prosperity, SC.

Nhiều sinh viên y khoa tại Đại học South Carolina lấy chứng chỉ hành nghề cấp cứu ngay trong năm đầu tiên vào trường, xem đây là cách trải nghiệm tốt nhất đối với các trường hợp thập tử nhất sinh.

Theo Susan Skochelak, người phụ trách “Sáng kiến Thay đổi lề lối giảng dạy Y khoa” tại Hội Y khoa Mỹ (American Medical Association), dạy sinh viên hiểu cách hệ thống chăm sóc y tế làm việc và những gì bệnh nhân cần là rất quan trọng. Từ 2013, sáng kiến đã được triển khai tại 32 trường y, kể cả trường N.Y.U. Langone.

Theo Hồng Hải
The New York Times

Tin tiêu điểm