Thứ 4, Ngày 7 Tháng 8 năm 2019

Hồ Chí Minh - Trọn niềm kính yêu!

Huyên Dương (Trường THCS Lê Văn Thiêm – TP Hà Tĩnh) - 19/05/2020, 16:15 GMT+7 | Giáo dục
Ảnh minh họaẢnh minh họa

Bài thơ ra đời năm 1976 – thời điểm lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với dân tộc ta, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành, là khi Bắc Nam đã sum họp, đất nước trọn niềm vui. Không có bút lực nào ghi hết những cung bậc cảm xúc trong thời điểm ấy và cũng không thể nào nói hết được nỗi niềm của người con miền Nam được ra thăm miền Bắc, đến trước lăng Người.

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Ngay từ câu thơ đầu tiên bằng cách xưng con trong mối quan hệ với Bác đã gợi ra một cuộc hành hương của người con xa quê trở về bên Cha già kính yêu. Bao ngày tháng chờ mong, nhà thơ Viễn Phương đã mang theo biết bao tình cảm thắm thiết của đồng bào và chiến sĩ ra viếng lăng Bác Hồ kính yêu. Có thể nói đây là cuộc hành hương vô cùng xúc động. Giờ đây, người con của mảnh đất thành đồng Tổ quốc, của miền Nam đi trước về sau đã đến được với miền Bắc, với lăng Bác Hồ để báo công. Hẳn lúc ấy tình yêu tha thiết của Bác với miền Nam cũng đã bồi hồi dội về trong tâm tưởng.

Có lẽ, nhà thơ đến đây từ rất sớm. Trong bảng lảng khói sương, từ xa, nhà thơ đã nhìn thấy hàng tre ẩn hiện trên quảng trường Ba Đình lịch sử. Màn sương trong câu thơ gợi lên một không khí thiêng liêng, một miền cổ tích xa xưa, xứ sở của những ông Tiên, ông Bụt. Cây tre với màu xanh bát ngát, dáng đứng thẳng là hình ảnh chân thức bởi bên lăng Bác Hồ có đôi khóm tre ngà. Hình ảnh hàng tre ấy còn tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam bất khuất, cần cù, đoàn kết; cho làng quê thân thuộc, cánh đồng thẳng cánh cò bay.

***

Không chỉ quan sát bằng mắt mà còn bằng tâm tưởng, Viễn Phương đã tinh tế khi tạo nên những suy nghĩ sâu sắc về vẻ đẹp của Bác Hồ trong khổ thơ tiếp theo:

Ngày ngày Mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một Mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…

Như một quy luật muôn đời, Mặt trời - tinh cầu vĩ đại mang đến sự sống cho muôn loài, chiếu tỏa lên vạn vật. Từ hình ảnh ấy, nhà thơ liên tưởng, ẩn dụ về một Mặt trời trong lăng. Ví Bác là Mặt trời là một tứ thơ không mới. Trước Viễn Phương thơ Tố Hữu cũng đã từng bay bổng:

Người rực rỡ một Mặt trời cách mạng

Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng

Rõ ràng, con người, tên tuổi, sự nghiệp của Người vĩ đại và vĩnh hằng như Mặt trời rực rỡ, trường tồn cùng sông núi. Viễn Phương đã làm mới ý thơ bằng động từ “thấy”. Mặt trời thực thấy Mặt trời trong lăng rất đỏ. Sự vĩ đại, tình yêu thương bao la, trái tim ấm nóng – rất đỏ của Người khiến thiên nhiên phải nghiêng mình ngưỡng mộ. Và như thế, ngày lại ngày từng dòng người bất tận lặng lẽ cúi đầu đi trong thương nhớ và tình yêu vô hạn để đứng trước linh cửu Người. Sự thành kính, biết ơn ấy là mãi mãi, không một ngôn từ nào có thể diễn tả hết được. Dấu chấm lửng cuối đoạn thơ góp phần rõ thêm lòng thương nhớ ấy.

***

Bước chân vào lăng, nhìn thấy Bác, nhà thơ càng xúc động:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim.

Sau 30 năm chờ đợi và hôm nay nhà thơ được đứng trước linh cửu của Người, thấy Bác như đang nằm ngủ “một giấc ngủ bình yên”. Cả cuộc đời Người chưa đêm nào trọn giấc. Tuổi thanh xuân bôn ba ở nước ngoài, để cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà. Trong những tháng ngày bị giam cầm ở nhà lao Tưởng Giới Thạch, Người cũng nhiều đêm khuya không ngủ hay chưa ngủ…

Giờ đây, Người thanh thản đi vào giấc ngủ vô cùng bình yên, thanh thản ở giữa một vầng trăng dịu hiền. Không gian như ngưng kết, thời gian như ngừng trôi. Ngoài kia là sương sớm, là Mặt trời chói chang còn trong lăng là vầng trăng sáng, tĩnh tại đến muôn đời. Vầng trăng kia gợi về những miền quê yên bình nơi Kim Liên – Nam Đàn, hay miền cố đô Huế khi nghe cha đọc thơ, ngắm mẹ ngồi dệt vải. Đó còn là biểu tượng cho tấm lòng dịu dàng chan chứa yêu thương, là những vần thơ bát ngát ánh trăng luôn đồng hành cùng Người.

Tiếp nối vầng trăng là trời xanh – những hình ảnh vĩnh hằng, bất diệt của thiên nhiên vũ trụ để ngẫm về cái vô cùng, bất diệt của một con người, một nhân cách. Vẫn biết như thế nhưng mà sao tạo ra sự đối lập mãnh liệt giữa lí trí và con tim. Lí trí lạnh lùng, tỉnh táo mách bảo Bác vẫn còn mãi như trời xanh nhưng con tim lại nhói lên trước sự thật Người đã vĩnh viễn đi xa.

 “Nhói” là sự đau đớn, như quặn thắt và tiếc thương đến cực độ. Viễn Phương có lối viết hàm súc, đầy thi vị và có những câu chữ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Như vậy, đoạn thơ là một phức hợp tâm trạng của Người con miền Nam khi nghiêng mình trước linh cửu của Người, vừa tự hào, vừa thành kính, vừa xúc động biết ơn và cả những đau xót nhớ thương vô hạn.

Sự nghẹn ngào cũng thể hiện rõ ở khổ thơ cuối, khi nghĩ đến mai về miền Nam. Mai về miền Nam, trở lại nơi đã bắt đầu trong một kết cấu thơ đầu cuối tương ứng. Nhưng với nhà thơ không phải là sự trở về mà là chia li. Có lẽ vì thế mới nghĩ đến mai về mà đã trào nước mắt. Từ đầu đến cuối bài thơ, Viễn Phương đã cố kìm nén cảm xúc bằng hệ thống từ ngữ, hình ảnh: không phải viếng mà là thăm, rồi thấy Bác vĩnh hằng như Mặt trời, vầng trăng, trời xanh. 

Đến cả nỗi đau cũng chỉ là cái nhói thầm lặng mà giờ đây nước mắt đã tràn mi. Chính từ đây đã xuất hiện những ước nguyện chân thành, đau đáu nhất là ước muốn hóa thân làm con chim hót, đóa hoa tỏa hương. Và hơn hết chính là mong muốn làm cây tre trung hiếu để được đền ơn đáp nghĩa, được ở mãi bên Người. Nguyện ước ấy của nhà thơ và cũng là của tất cả chúng ta bởi “yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”.

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự

Xem thêm

Xem thêm