Bản in

Bạn đọc

Thứ Tư, 12/7/2017 13:02

Đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam

Chủ tịch nước Trần Đại Quang với các đại biểu. (Ảnh: TTXVN).Chủ tịch nước Trần Đại Quang với các đại biểu. (Ảnh: TTXVN).

GD&TĐ - Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đồng bào các tôn giáo luôn đoàn kết, gắn bó và đóng góp tích cực vào sự nghiệp giải phóng đất nước trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Một trong những động lực chủ yếu để phát triển đất nước là chính sách đại đoàn kết toàn dân, trong đó đặc biệt coi trọng đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Theo từ điển tiếng Việt, đoàn kết là đồng lòng, kết hợp thành khối, thành nhóm chặt chẽ. Đoàn kết tôn giáo là các tôn giáo cùng kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung. Ở Việt Nam, vấn đề tôn giáo và dân tộc luôn có mối quan hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ với nhau. Đồng bào tôn giáo cũng là công dân của đất nước, dân tộc.

Nhiều đồng bào các dân tộc đã và đang tin, theo một tôn giáo; vì thế đoàn kết tôn giáo chính là thành tố quan trọng tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong những năm vừa qua, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo đã luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, hòa hợp, tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thực hiện đoàn kết giữa các tôn giáo ở nước ta.

Người khẳng định, đoàn kết toàn dân, đặc biệt là đoàn kết các tôn giáo với nhau là vấn đề sống còn, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, sự tồn vong của dân tộc. Ngay sau khi nước nhà độc lập, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3/9/1945), Người đã tuyên bố: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” và khẳng định: “Phải đoàn kết chặt chẽ không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo. Đoàn kết tức là lực lượng; chia rẽ tức là yếu hèn([1]).

Đây cũng chính là kim chỉ nam cho sự thành công của cách mạng nước ta. Nhờ đó, Hồ Chí Minh đã quy tụ, tập hợp được các tôn giáo trong khối đoàn kết toàn dân tộc tham gia kháng chiến và kiến quốc thắng lợi.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một cuộc gặp mặt đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam.

 

Người đã nhìn ra bản chất của tôn giáo và đã kêu gọi đoàn kết tôn giáo, vì lợi ích chung của cả dân tộc và cũng vì lợi ích của chính các tôn giáo; việc giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, đấu tranh giải phóng dân tộc nhằm mục đích cuối cùng là vì nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Đây chính là cơ sở thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo với nhau và giữa đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với phương pháp đấu tranh mềm dẻo, đi sâu vào lòng người, luôn đồng cảm với từng nỗi khổ, niềm vui của đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn có cách xử thế tinh tế, phù hợp với đạo lý, giúp cho các tín đồ tin tưởng vào Chính phủ, tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Với Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng muốn làm cách mạng, không có con đường nào khác là phải tập hợp được sức mạnh của toàn dân; trong đó đồng bào các tôn giáo là một bộ phận rất quan trọng không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh này, càng không thể để kẻ địch lôi kéo, lợi dụng.

Với khẩu hiệu: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết và nguyên tắc “không chạm đến vấn đề đức tin”, Hồ Chí Minh đã thực hiện thắng lợi việc đoàn kết các tôn giáo một cách toàn diện và sáng tạo trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân; Người đã nhấn mạnh: “Dân tộc có giải phóng thì tôn giáo mới giải phóng được. Lúc này chỉ có quốc gia và không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc([2]).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ khi tiếp xúc với đồng bào các tôn giáo nhất phải thật sự tôn trọng tín ngưỡng của nhân dân. Điều này đã được ghi trong mệnh lệnh ngày 9/9/1952 của Chính Phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa: “Chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào”.

Vào những thời điểm nhạy cảm, Người đã linh hoạt trong từng quyết sách, từng chỉ đạo để giải quyết mâu thuẫn, xung đột nảy sinh giữa lương - giáo, giữa giáo dân - chính quyền cách mạng. Mềm dẻo, đi sâu vào lòng người, luôn tôn trọng niềm tin của người dân vào giáo lý, Hồ Chủ tịch đã bằng tấm lòng thành, tầm nhìn xa của mình để không chỉ giáo dục, giác ngộ đồng bào tôn giáo, mà còn thực hiện thành công chiến lược đoàn kết toàn dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống di sản lý luận mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. 
 Có thể cảm nhận được tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các tôn giáo, dù họ đang sinh sống ở miền Nam hay miền Bắc, dù đã giác ngộ hay còn chưa được giác ngộ, đều chân thành và nhân ái, bao dung và thân tình.

 

Người lôi cuốn được đông đảo đồng bào có đạo theo cách mạng không chỉ bằng đường lối đúng đắn mà còn bằng cả trái tim nhiệt huyết, chân thành và những hiểu biết sâu rộng về tôn giáo của mình. Đó cũng chính là động lực thúc đẩy đồng bào các tôn giáo tự giác đóng góp sức người, sức của tạo nên thành công của cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn đi lên xây dựng đất nước Việt Nam XHCN.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo còn bao hàm cả sự phê phán những hành vi lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng, xâm phạm đến lợi ích chung của đất nước, của dân tộc, Người đề nghị đồng bào luôn nêu cao cảnh giác, phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, hành động của kẻ thù lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ đoàn kết giữa các tôn giáo, tôn giáo với dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết tôn giáo chính là kết hợp tư tưởng của thời đại, tầm nhìn của đỉnh cao văn hóa nhân loại, tầm nhìn “của tương lai”, vượt qua những giới hạn của lịch sử, của những thiên kiến tôn giáo, giai cấp và dân tộc để thấy được giá trị đạo đức tích cực của các tôn giáo, khai thác nó phục vụ cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng chế độ xã hội mới.

Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề đoàn kết tôn giáo

Kế thừa, phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết tôn giáo, xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay, từ vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng và tính quần chúng của tôn giáo những năm qua, Ðảng và Nhà nước luôn đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc, tôn giáo và coi đó là tư tưởng xuyên suốt, một trong những nội dung quan trọng trọng việc hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước.

Ðảng ta đã khẳng định: Ðồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đoàn kết dân tộc, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân, quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật.

Xác định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta; Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về tôn giáo và công tác tôn giáo, trong đó có vấn đề đại đoàn kết tôn giáo, như: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo;  kết luận số 57-KL/TW ngày 3/11/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW.

Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết về công tác tôn giáo đã khẳng định: "Tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HÐH đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"([3]).

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định, đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh:

Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc để tập hợp rộng rãi tất cả đồng bào và chức sắc tôn giáo vào khối đại đoàn kết dân tộc.

 Thủ tướng với các tổ chức tôn giáo đã diễn ra tại Hội trường Thống Nhất
 Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

 

Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật.  

Trên cơ sở cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng ta về đoàn kết tôn giáo, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1.Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3.Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật([4])”.

Đặc biệt, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vừa được Quốc hội khóa XIV thông qua năm 2016 đã khẳng định: “Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 1. Tập hợp đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; và nghiêm cấm “Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo([5]).

Như vậy, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều là hướng tới mục tiêu nhất quán, đó là đoàn kết đồng bào tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết dân tộc, vì sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc.

Mặc dù các tôn giáo ở Việt Nam có nguồn gốc và đặc trưng khác nhau nhưng không vì thế xung đột, phá hoại lẫn nhau mà luôn có sự gắn kết, dung hợp và giao lưu giữa các tín ngưỡng, tôn giáo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước hiện nay, các tôn giáo ở nước ta đã kết thành một khối trong cộng đồng các dân tộc, hết lòng đóng góp sức người, sức của giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và kiến thiết đất nước.

Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Ðạt được những thành tựu đó là do nhiều yếu tố, trong đó có đóng góp quan trọng của đồng bào các tôn giáo. Họ gắn bó với quốc gia, dân tộc vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận của một tín đồ đối với tôn giáo cùng phấn đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, trong những năm qua, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng phát triển; nhiều cơ sở thờ tự tôn giáo được xây mới khang trang; các chức sắc, tín đồ được tạo điều kiện sinh hoạt, học tập, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; đồng bào các tôn giáo ngày càng yên tâm, tin tưởng, hăng hái thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, nhất là các hoạt động xã hội, từ thiện, góp phần cùng chính quyền các cấp phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.

Đông đảo chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; đồng bào tôn giáo và không theo tôn giáo đoàn kết, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự,… góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Một số đề xuất, kiến nghị:

Từ việc nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác tôn giáo trong thời kì đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã xác định: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, nhằm giúp đồng bào các tôn giáo thực hiện tốt phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Nước vinh, đạo sáng”, “Sống phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc”, gắn bó với dân tộc, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Nhằm làm tốt công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trong cả nước, trong những năm qua, các cấp, các ngành chức năng từ trung ương đến các địa phương, trong đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò chủ đạo đã thường xuyên quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo và đoàn kết tôn giáo, kết hợp chặt chẽ công tác tôn giáo với việc tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn; động viên, khuyến khích các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo “sống tốt đời, đẹp đạo”, cống hiến tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho đồng bào các tôn giáo thấy rõ sự ưu việt của chế độ XHCN, sự đúng đắn của các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nói chung, về tôn giáo, công tác tôn giáo nói riêng, về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để hòng gây mất đoàn kết nội bộ, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, công tác này vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Đó là, mặc dù trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ các tôn giáo nhưng đại đa số đồng bào tôn giáo ở nước ta là người lao động nghèo, đời sống còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp; một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức được rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác tôn giáo trong tình hình mới; về xây dựng đoàn kết tôn giáo nên còn xem nhẹ công tác này, một số cán bộ, đảng viên còn cửa quyền, hách dịch, thoái hóa biến chất, sách nhiễu, gây mất lòng tin ở các chức sắc, tín đồ tôn giáo; một số bộ phận chức sắc, tín đồ bị kẻ địch lừa bịp, lợi dụng đức tin để lôi kéo vào các hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; một số vụ việc xảy ra liên quan đến tôn giáo, dân tộc chưa được giải quyết triệt để, kịp thời, còn để kéo dài, khiếu kiện vượt cấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đoàn kết các tôn giáo ở địa phương..v..v…

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng xây dựng khối đại đoàn kết tôn giáo trong những năm qua, tác giả xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới như sau:

Một là, Các cơ quan, ban, ngành chức năng và cả hệ thống chính trị cần tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội đối với các địa bàn có đồng bào tôn giáo. Quan tâm, hỗ trợ, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, đường giao thông, thuỷ lợi, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ tập quán lạc hậu, làm cho bộ mặt nông thôn vùng có đồng bào các tôn giáo không ngừng đổi mới, đời sống đồng bào theo các tôn giáo ngày càng được cải thiện.

Kết hợp các chính sách hỗ đặc biệt cho đồng bào các tôn giáo có hoàn cảnh khó khăn, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào các tôn giáo. Đó là tiền đề quan trọng giúp đồng bào theo đạo phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới cũng như tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, giữa tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo.

Chỉ có cải thiện, ổn định và nâng cao dần đời sống chính trị - tư tưởng cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng có đông tín đồ tôn giáo thì mới đưa được đường lối của Đảng, chính sách của Chính phủ đến với đồng bào, để đồng bào hiểu rõ bản chất, âm mưu thâm độc của kẻ thù.

Do vậy, các ngành, các cấp cần rà soát, kịp thời bổ sung những chính sách đầu tư sát hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo; tổ chức thực hiện đồng bộ, chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, đảm bảo các loại vốn đầu tư thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện để đồng bào phấn đấu vươn lên thoát nghèo một cách bền vững, hòa nhập với tiến trình đi lên của đất nước.

Hiện nay, cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020 của Chính phủ. Đây là giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, có ý nghĩa sâu sắc trong việc ổn định, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.   

Hai là, Tiếp tục thực hiện tốt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo tại từng địa bàn, nhất là các địa bàn tập trung nhiều tôn giáo là vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS. Thông qua đó, củng cố lòng tin của đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước; hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

Các cơ quan, ban, ngành chức năng của địa phương cần tuyên truyền, giáo dục tín đồ trong các tôn giáo hiểu rõ và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, quan tâm nắm bắt tình hình và tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo để đáp ứng kịp thời phù hợp với tình hình thực tế địa phương…

Biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, đặc biệt là đồng bào tín đồ các tôn giáo trên tinh thần“cầu đồng, tồn dị”, loại bỏ những khác biệt về chính kiến, tìm kiếm những điểm tương đồng trong nhân dân. Tôn trọng và phát huy vai trò gương mẫu, dẫn dắt của những người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng dân cư, các dân tộc, các tôn giáo...

Chủ động giải quyết triệt để và dứt điểm các vấn đề nổi cộm ở cơ sở như các “điểm nóng”, các tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, kéo dài liên quan đến tôn giáo, dân tộc không để lây lan, kéo dài, vượt cấp.

Ba là, Xây dựng, cũng cố hệ thống chính trị vững mạnh từ tỉnh đến cơ sở. Xây dựng mối đoàn kết, thống nhất ý chí trong nội bộ Đảng, sự đồng thuận của dân đối với Đảng, Nhà nước. Đi sâu, đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, để kịp thời chỉ đạo giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong đời sống nhân dân.các ngành các cấp cần đầu tư cho công tác đào tạo, tập huấn , bồi dưỡng cán bộ đặc biệt chú trọng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ, cán bộ trong các lực lượng vũ trang tăng cường cho cơ sở,

Tăng cường phát triển đảng viên trong các dân tộc thiểu số, thông qua các phong trào cách mạng để lựa chọn ra những gương mặt tiên tiến, tiêu biểu để phát triển đảng.

Mặt trận và các đoàn thể tiếp tục đổi mới nội dung phương thức vận động quần chúng phù hợp vói tình hình hiện nay, góp phần tích cực thúc đẩy thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, phát động các phong trào toàn dân đoàn kết thi đua thực hiện đời sống văn hoá cơ sở. Tiếp tục làm tốt công tác phát triển đoàn viên, hội viên, xây dựng cơ sở hội ngày càng vững mạnh, không để cho các thế lực thù địch tranh giành lôi kéo quần chúng.

Mặt trận và các đoàn thể phải thực sự là hạt nhân chính trị, thực hiện tốt khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến lợi ích cách mạng, lợi ích dân tộc. 

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, bảo đảm các tôn giáo hoạt động bình thường theo quy định của pháp luật. Mềm dẻo nhưng cương quyết trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật như việc tập trung đông người truyền đạo trái phép, nghiêm trị những đối tượng cầm đầu phản động.

Chính quyền, mặt trận, các đoàn thể quan tâm hơn nữa đến công tác quần chúng, chăm lo đời sống đồng bào giáo dân, tập hợp quần chúng giáo dân và tổ chức đoàn, hội tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Tranh thủ các chức sắc tiến bộ, tuyên truyền vận động những người lầm lỡ, đấu tranh cô lập những phần tử có tư tưởng “cực đoan”, biểu hiện xấu, chống phá cách mạng.

Bốn là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, dân tộc nói chung, công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo nói riêng đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, dân tộc là nhiệm vụ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác tôn giáo nói chung, công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo nói riêng; do vậy, xây dựng tổ chức, bộ máy cán bộ làm công tác tôn giáo đủ mạnh, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ này là hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong công tác này.

Quan tâm xây dựng tổ chức, bộ máy cán bộ làm công tác tôn giáo đủ mạnh, tạo điều kiện về mọi mặt nhằm góp phần tham mưu ngày càng tốt hơn cho cấp uỷ, chính quyền giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo từ Trung ương đến địa phương, những người trực tiếp giải quyết vấn đề liên quan đến tôn giáo ở cơ sở. Trong thực hiện phải phân công, phân cấp hợp lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác tôn giáo.

Quá trình đào tạo, bồi dưỡng, các cấp cần đa dạng hóa các loại hình, nội dung phải luôn mới, sát hợp thực tế, cần phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp bồi dưỡng cho phù hợp với từng đối tượng, từng vùng tôn giáo khác nhau. Có như vậy mới xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đủ năng lực, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra cả trước mắt và lâu dài.

Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội đối với công tác tôn giáo; nâng cao nhận thức cấp uỷ các cấp về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng đoàn kết các tôn giáo, về vai trò, tầm quan trọng của đồng bào các tôn giáo với tư cách là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đó là một trong những giải pháp củng cố, xây dựng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn khu dân cư, góp phần ổn định sinh hoạt tôn giáo và thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với đồng bào có đạo.

Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần thực sự quan tâm, lãnh đạo việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với các tôn giáo một cách đồng bộ, có tính thống nhất cao; cần phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước của chính quyền và không ngừng phát huy vai trò vận động của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng trong việc động viên đồng bào có đạo tham gia thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, đoàn kết, phấn đấu xây dựng quê hương đất nước.

Năm là, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận và hoạt động bình thường theo Hiến pháp, pháp luật. Quan tâm giải quyết các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật (như tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo xây, sửa nơi thờ tự; sinh hoạt tôn giáo; học tập, tu nghiệp ở nước ngoài; thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc…).

Tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt chính là tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển lành mạnh, tiền đề để chúng ta đoàn kết được họ vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là cách giải quyết rất khoa học, nhạy bén trong giai đoạn hiện nay, vừa đảm bảo tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa kiểm soát được sự phát triển lành mạnh theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, vừa đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chức sắc, chức việc tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với giáo dân; uy tín, tiếng nói của họ thường được đồng bào tôn giáo tin theo. Vì vậy, cùng với công tác vận động, cảm hóa, Đảng và Nhà nước ta cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần với họ và có kế hoạch tạo nguồn phát triển lâu dài đội ngũ cốt cán tín đồ, chức sắc tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, pháp quy về tôn giáo.

Sáu là, cần tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện cho nhân dân nói chung, đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng được học tập, tiếp thu các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với các tôn giáo. Các ngành, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong vùng giáo, nhất là trong các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo nắm và thực hiện tốt các văn bản pháp luật về tôn giáo như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Hình sự sửa đổi năm 2015, Luật Tố tụng hình sự…

Các ngành các cấp đẩy mạnh việc tuyên truyền,  giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với quê hương đất nước, tăng cường sự đồng thuận giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo cũng như giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Bảy là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và những hoạt động tôn giáo trái quy định của pháp luật. Điều này thể hiện thái độ kiên quyết, không khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta đối với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam.

Chỉ có như vậy mới đảm bảo được quyền tự do chân chính của đồng bào có đạo hoạt động tôn giáo tự do, bình đẳng, đúng pháp luật; có bảo đảm quyền ấy mới làm cho đồng bào có đạo tự giác chống lại những thế lực lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu.

Tuyên truyền làm cho nhân dân hiểu, phân biệt vấn đề tôn giáo với việc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật hoặc gây mâu thuẫn trong nội bộ gia đình, dòng tộc, bản làng cũng như việc làm ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhất là cuộc sống bình yên của nhân dân và các tín đồ, chức sắc tôn giáo. Đây là việc rất cấp thiết trong tình hình hiện nay, khi mà các tôn giáo và các hiện tượng tôn giáo mới phát triển rầm rộ, khó kiểm soát.

Các địa phương cần phát hiện sớm và chủ động đấu tranh với những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trái pháp luật, đạo đức, thuần phong mỹ tục,… đồng thời, hướng họ đi vào hoạt động lành mạnh, không vi phạm pháp luật. Để đạt hiệu quả, cấp ủy và chính quyền các cấp cần thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Đồng thời, làm tốt công tác vận động quần chúng, tranh thủ đội ngũ già làng, chức sắc, chức việc, đội ngũ cốt cán vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào theo đạo. Kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại về dân tộc, tôn giáo, giúp cho cộng đồng thế giới hiểu rõ chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và thực tế tình hình đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Làm tốt công tác này sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội và huy động sự đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong củng cố, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu, một sức mạnh vĩ đại đã được thử thách, kiểm chứng qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trong đó, đoàn kết tôn giáo là bài học có ý nghĩa chiến lược, vô cùng quan trọng mà ông cha ta đã tổng kết trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đó cũng là quan điểm, chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong thời đại mới nhằm khơi dậy và phát huy những giá trị tích cực của mỗi tôn giáo nói riêng và sức mạnh khối đại đoàn kết các tôn giáo nói chung trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước, góp phần đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. 



[1] TS. Phạm Huy Thông, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công tác Tôn giáo, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1078/Tu_tuong_Ho_Chi_Minh_ve_Cong_tac_Ton_giao

[2] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 2006, t.3, tr.10

[3] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.165.

[4] Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp năm 2013

[5] Quốc hội khóa XIV, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016

Ths.Nguyễn Xuân Quỳnh