rssheader

17/01/2021

Giao lưu trực tuyến "Tiếp cận giáo dục: Trao cơ hội cho học sinh dân tộc"

Báo GD&TĐ - 01/12/2020, 09:00 GMT+7 | Giáo dục
Giao lưu trực tuyến "Tiếp cận giáo dục: Trao cơ hội cho học sinh dân tộc"

Những kết quả đã đạt được, cùng khó khăn và giải pháp cho giáo dục dân tộc sẽ được trao đổi tại chương trình giao lưu trực tuyến với sự tham gia của các khách mời:

Ông Lê Như Xuyên, Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT);

TS Trần Thị Yên, Trưởng ban Nghiên cứu Giáo dục dân tộc, Viện KH GD Việt Nam;

Ông Nguyễn Văn Kiên, Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên;

Cô Nông Thị Thìn, giáo viên Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái  Nguyên).

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, những năm qua, chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi ngày càng được cải thiện, tiệm cận dần với chất lượng chung của cả nước.

Tỷ lệ học sinh được học ở trường chính tăng, số trường có điểm trường giảm đáng kể. Việc quy hoạch mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã được tăng cường đầu tư đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được mở rộng phát triển ở các địa phương.

Chế độ chính sách cho nhà giáo, cán bộ quản lí, người học và cơ sở giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi tiếp tục được hoàn thiện và triển khai thực hiện có hiệu quả góp phần nâng cao tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số đi học, duy trì tỉ lệ học sinh chuyên cần, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, tạo cơ sở nâng cao chất lượng dạy và học vùng dân tộc thiểu số, miền núi...

Bên cạnh kết quả đạt được, giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi vẫn còn nhiều khó khăn, mà để giải quyết cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đặc biệt khi chúng ta đang triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Bạn đọc có thể gửi câu hỏi tới các khách mời tại đây, hoặc gửi email của Báo Giáo dục và Thời đại: [email protected], hoặc tương tác qua facebook: www.fb.com/giaoducthoidai.

 

Nội dung buổi giao lưu trực tuyến

Qua chương trình giao lưu trực tuyến này, ông có gửi gắm tâm tư gì đến các cơ quan TW?

[email protected]

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Qua chương trình giao lưu trực tuyến này, tôi muốn đề xuất, kiến nghị với Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo một số nội dung:

Giao bổ sung số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là cấp học mầm non đảm bảo đủ định mức theo Thông tư số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/3/2017 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ, Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư Quy định đánh giá học sinh tiểu học và Thông tư ban hành Điều lệ trường tiểu học đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ năm học 2020-2021.

Quy định cụ thể số lượng người làm việc của Phòng Giáo dục và Đào tạo tối thiểu là 18 trong Thông tư liên Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo, theo hướng dẫn tại Công văn số 8150/BGDĐT-TCCB ngày 02/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng định mức giáo viên cho phù hợp với thực tế tăng số môn học. Quy định riêng số lượng người làm việc cho các Trung tâm học tập cộng đồng.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư hướng dẫn nghị định số 127/2018/NĐ-CP của Chính phủ Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.

Nâng mức học bổng học sinh của trường phổ thông DTNT từ 80% lên 100% mức tiền lương cơ sở để đảm bảo dinh dưỡng cho học sinh; Hỗ trợ tiền ăn trưa đối với trẻ nhà trẻ (trẻ từ 3 đến 36 tháng tuổi) như mức hỗ trợ đối với đối tượng trẻ mẫu giáo.

Có chính sách hỗ trợ cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác tại trường phổ thông có học sinh bán trú; hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trường học cho các trường phổ thông có học sinh bán trú; hỗ trợ giáo viên đang giảng dạy tại các điểm trường lẻ tương đương như cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trường bán trú.

Bổ sung các đối tượng là trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng đặc biệt khó khăn vào đối tượng được Nhà nước hỗ trợ chi phí học tập trong Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ.

Hỗ trợ từ ngân sách Trung ương để bố trí nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường phổ thông dân tộc bán trú theo quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Trong quá trình công tác, Nhà trường và các đồng nghiệp đã có những sự hỗ trợ thế nào đối với cô và trò ở điểm trường?

[email protected]

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Vì là điểm trường, cho nên cô và trò ở đây luôn được các thầy cô ở trường trung tâm xã quan tâm, động viên bằng những sự hỗ trợ rất kịp thời, thiết thực, ý nghĩa. Hầu như trong mọi chương trình, hoạt động, điểm trường luôn được nhà trường ưu tiên trước. Các em ở đây đã được nhận nhiều món quà rất ý nghĩa như xe đạp, quần áo, gạo...

Bên cạnh đó, một số hoạt động văn hóa văn nghệ như Đêm hội trăng rằm, Lửa trại... Nhờ đó, các em được đón nhận nhiều niềm vui ấm áp. 

Các cháu được vui hội trung thu 

Xin ông cho biết, để tạo được sự đồng thuận cao trong toàn ngành, đặc biệt là đội ngũ nhà giáo và học sinh thì công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có vai trò hết sức quan trọng. Ngành GD&ĐT Điện Biên đã thực hiện công tác này như thế nào thưa ông?

Minhhieu***@gmail.com

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhà trường là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bồi dưỡng lý tưởng, nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, nhằm hình thành những lớp công dân sống có lý tưởng, có bản lĩnh, nhân cách và kỹ năng sống chủ động, tích cực. Trong những năm qua, ngành GD&ĐT đã thực hiện nhiều giải pháp tăng cường hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, sinh viên.

Chủ động quán triệt, triển khai đầy đủ kịp thời văn bản chỉ đạo của các cấp về giáo dục chính trị tư tưởng đến các cơ sở giáo dục: Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII và Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Quyết định số 1501/QĐ-TTg, ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt đề án "Tăng cường giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên và nhi đồng, giai đoạn 2015-2020"; Chỉ thị số 31/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về giáo dục tư tưởng chính trị và công tác học sinh, sinh viên. Chú trọng lồng ghép các nội dung giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật; tăng cường các hoạt động vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh cấp trung học….

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh, thiếu niên và nhi đồng trong các cơ sở giáo dục. Tổ chức tuyên truyền giáo dục cho thế hệ trẻ các giá trị lịch sử, văn hóa, cách mạng của tỉnh. Khai thác và phát huy có hiệu quả các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng, ứng dụng công nghệ thông tin, internet trong công tác giáo dục thanh, thiếu niên và nhi đồng; công tác giáo dục được thông qua các hội nghị, trên website, truyền thanh truyền hình; trong các hoạt động chuyên môn, trong các giờ học chính khóa, hoạt động ngoại khóa trường học.

Các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Đề án "Tăng cường quản lý, giáo dục chính trị tư tưởng đối với HSSV trên môi trường mạng đến năm 2025". Hướng dẫn HSSV khai thác, sử dụng mạng an toàn, hiệu quả. Định hướng và ngăn chặn việc cán bộ, nhà giáo, HSSV tham gia các hoạt động văn hóa thiếu lành mạnh, chia sẻ, bình luận, cổ súy các thông tin sai trái lệch lạc, các hình ảnh phản cảm trên mạng xã hội, trên các trang web phản động, gây tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của đội ngũ cán bộ, nhà giáo, người lao động, HSSV, làm giảm sút niềm tin trong nhân dân về hình ảnh và nhân cách nhà giáo.

Đối với giáo viên:

Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 1737/CT-BGDĐT ngày 07/5/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao đạo đức nhà giáo; thường xuyên nắm bắt diễn biến tư tưởng đội ngũ, dư luận xã hội đề cập đến những vấn đề trong ngành, kịp thời phát hiện các sự việc phát sinh; chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo, định hướng tư tưởng, tuyên truyền và xử lý kịp thời các vấn đề “nóng”, các vấn đề bức xúc, nhạy cảm, nhất là các vấn đề liên quan trực tiếp đến chế độ, chính sách, đời sống, quyền lợi của đội ngũ cán bộ, nhà giáo, người lao động; thực hiện tốt dân chủ cơ sở đồng thời chấn chỉnh kịp thời hiện tượng cán bộ, nhà giáo, người lao động tham gia viết đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh, bịa đặt, gây mất đoàn kết nội bộ và hạ thấp uy tín của cá nhân trong tập thể. Chấn chỉnh và xử lí nghiêm đối với việc cán bộ, nhà giáo có hành vi vi phạm đạo đức, bạo hành thể chất, tinh thần học sinh và người đứng đầu cơ sở giáo dục để xảy ra vụ việc vi phạm.

Tổ chức hoặc tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ phụ trách công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống và công tác HSSV, giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên phụ trách công tác Đoàn, Đội, giáo viên kiêm nhiệm công tác tư vấn tâm lý, công tác xã hội...tham gia các đợt tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo Chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn, địa phương tổ chức.

Kiện toàn bộ phận chuyên trách công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác HSSV thuộc phòng giáo dục và đào tạo, các trường cao đẳng, Sở giáo dục và Đào tạo.

Các nhà trường đã tích cực đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị, giáo dục công dân, các nội dung về giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và văn hóa trong trường học; tích hợp việc giáo dục quyền bảo vệ và chăm sóc trẻ em, luật thanh niên, luật bảo vệ chăm sóc trẻ em; giáo dục giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống.

Phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đa dạng hóa các hình thức giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho học sinh. Đoàn thanh niên các cấp đã tổ chức các hoạt động tình nguyện tham gia đảm bảo an sinh xã hội, thu hút số lượng lớn đoàn viên, thanh niên tham gia với hoạt động tiêu biểu: Xuân tình nguyện, Xuân yêu thương, phong trào hiến máu tình nguyện…

Tỷ lệ đi học mẫu giáo của trẻ em dân tộc thiểu số còn thấp dẫn đến việc các cháu chưa được chuẩn bị tốt về kỹ năng nói tiếng Việt trước khi vào lớp 1. Có thể khắc phục khó khăn này như thế nào, thưa chuyên gia?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Vùng dân tộc thiểu số đã xóa được xã trắng về giáo dục mầm non, song chưa xóa được bản trắng về giáo dục mầm non.

Trẻ em dân tộc thiểu số phải được tiếp cận với giáo dục mầm non từ 3, 4, 5 tuổi mới đáp ứng được việc chuẩn bị Tiếng Việt khi vào lớp 1 (6 tuổi). Do vậy giải pháp đầu tư trường, lớp mầm non đến tất cả các thôn, bản đảm bảo 100% trẻ em 3, 4, 5 tuổi được tiếp cận giáo dục mầm non. Nói cách khác là xóa thôn bản trắng giáo dục mầm non.

Ngành GD&ĐT Điện Biên đã khắc phục khó khăn thế nào để có những kết quả tích cực như những năm học vừa qua thưa ông?

[email protected]

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Để khắc phục khó khăn, đạt được những kết quả như năm học 2019-2020 ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, gồm:

Nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi; đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đặc thù trong các trường chuyên biệt và các cơ sở giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên các trường được bố trí, sắp xếp hợp lý, đúng quy định. Lựa chọn, bố trí giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn khá giỏi, tâm huyết với giáo dục dân tộc làm giáo viên, cán bộ quản lý nòng cốt tại các trường nội trú, bán trú.

Sở GDĐT đã tổ chức các lớp bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên và cán bộ chuyên trách trong các trường về các nội dung: Nâng cao năng lực cán bộ quản lý vùng dân tộc, Bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, các nội dung giáo dục đặc thù, giáo dục kỹ năng sống giá trị sống cho giáo viên trong kỳ bồi dưỡng hè cũng như bồi dưỡng thường xuyên, giúp đội ngũ có hiểu biết sâu rộng về tổ chức và hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc điểm tâm lí học sinh dân tộc thiểu số, văn hoá dân tộc, phòng chống HIV/AIDS, ... trên cơ sở các văn bản chỉ đạo và tài liệu do Bộ cung cấp.

Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đặc thù trong các trường chuyên biệt và các cơ sở giáo dục. Đã duy trì số lượng học sinh trong độ tuổi đi học, giảm tỷ lệ học sinh lưu ban.

Các chế độ, chính sách của học sinh dân tộc thiểu số ở Điện Biên được thực hiện tốt góp phần thu hút HS đến trường.

 

Sở GD&ĐT đã chỉ đạo các đơn vị hoàn thiện thống kê phổ cập GDTH và PCGD THCS trên phầm mềm online của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm huy động tối đa dân số người dân tộc trong độ tuổi đến trường, duy trì sỹ số học sinh, không để học sinh bỏ học giữa chừng, giảm số học sinh đi học không chuyên cần.

Chúng tôi cũng chú trọng mở rộng mạng lưới trường lớp, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường. Mạng lưới trường, lớp học phát triển đồng bộ; các xã, phường, thị trấn đều có trường tiểu học, THCS; các trung tâm huyện đều có trường THPT, trường PT DTNT huyện và Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, các bản lẻ có lớp tiểu học đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, quy mô học sinh phát triển ổn định.

Cùng với đó là việc hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học. Trong công tác này, Sở đã tham mưu quyết liệt với cấp uỷ, chính quyền địa phương các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc. Làm tốt công tác tuyên truyền để toàn xã hội quan tâm tới giáo dục ở vùng dân tộc. 100% các trường đạt mục tiêu 3 đủ (đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở) đối với học sinh. Việc quản lí giáo dục ở vùng dân tộc theo những lĩnh vực giáo dục đặc trưng và theo từng dân tộc cụ thể đã được các đơn vị quan tâm. Thông tin giữa Sở Giáo dục và Đào tạo và địa phương về giáo dục dân tộc bảo đảm.

Hệ thống thư viện trường học được quan tâm xây dựng, tạo môi trường thuận lợi cho học sinh tự học và giáo viên tự nghiên cứu. 100% các trường có thư viện và phòng đọc sách. 100% các trường có hệ thống phòng máy tính có kết nối mạng Internet phục vụ quản lý, dạy và học. Các trường Tiểu học, THCS và THPT đạt chuẩn quốc gia đều có website riêng nhằm phục vụ công tác quản lý, phổ biến, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục đến giáo viên, học sinh, phụ huynh, đồng thời công khai các hoạt động và kết quả giáo dục của nhà trường.

Bên cạnh đó, chúng tôi tham mưu các chế độ, chính sách thu hút trẻ đến trường. Sở GD&ĐT chỉ đạo các phòng GD&ĐT căn cứ số lượng giáo viên hiện có tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân các dân tộc về hiệu quả của việc học 2 buổi/ngày nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, duy trì ăn bán trú và ngủ trưa tại trường cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng buổi học thứ hai trong ngày.

Đã hướng dẫn các trường huy động tối đa số học sinh tham gia học 2 buổi/ngày cấp Tiểu học; xây dựng khung thời khóa biểu thực hiện dạy học cả ngày và trên 5 buổi/tuần; tham mưu đảm bảo đủ tỷ lệ giáo viên/lớp; tăng cường cơ sở vật chất đáp ứng 1 phòng học/lớp. Đối với cấp trung học, tiếp tục tổ chức thực hiện tốt văn bản số 2661/SGĐT-GDTrH ngày 16/11/2017 về việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày đối với cấp trung học từ năm học 2017-2018: chỉ đạo các trường khu vực thuận lợi (điển hình như địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, vùng thấp huyện Điện Biên; các trường THPT, THCS thị xã, thị trấn...) đẩy mạnh xã hội hóa để tăng số lượng các lớp dạy 2 buổi/ngày nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Song song với đó là việc dạy học sát đối tượng và thành lập tổ cốt cán hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên các huyện vùng khó. Các trường PTDTBT đã thực hiện tốt nội dung giảng dạy và giáo dục theo chuẩn kiến thức kĩ năng; chú ý bổ sung kiến thức địa phương, văn hóa dân tộc, tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Chú trọng các hoạt động nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh bán trú. Đề ra các biện pháp phân loại học sinh hợp lý; tổ chức có hiệu quả công tác phụ đạo học sinh học lực yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi; tăng cường ý thức tự học, tự quản của học sinh.

Thành lập được đội ngũ cốt cán các cấp học, tăng cường hỗ trợ chuyên môn các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn. Sở đã thành lập tổ giáo viên cốt cán cấp THCS để hỗ trợ giáo viên các trường THCS tham gia mô hình trường học mới tại các huyện Nậm Pồ, Mường Nhé, Tuần Giáo và Mường Ảng.

Ngoài ra, Sở đã chú trọng, quan tâm tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao như Hội thi Giai điệu tuổi hồng, Hội khỏe phù đổng.

Một yêu tố rất quan trọng, đó là thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với học sinh dân tộc, nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công tác ở vùng dân tộc

Ngành GD&ĐT đã tổ chức, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng các chế độ chính sách đối với học sinh nói chung, chế độ chính sách đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nói riêng.

Hiện nay các chính sách phát triển loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú, phổ thông dân tộc nội trú cần được quan tâm thực hiện như thế nào, xin được nghe ý kiến trao đổi của chuyên gia?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Luật Giáo dục năm 2019 qui định mới về trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học (Điều 61). Vì vậy cần sửa đổi/ ban hành mới qui chế tổ chức hoạt động (ví dụ Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT; thông tư số 30/2015/TT-BGDĐT về sửa đổi, bổ sung một số điều của qui chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú ban hành kèm theo thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT), qui định hỗ trợ tài chính cho học sinh bán trú, nội trú, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học,…

Trong giáo dục học sinh luôn cần sự đồng hành của các bậc phụ huynh. Xin cô cho biết, sự chăm lo và đồng hành của phụ huynh học sinh ở đây như thế nào?

Mai Hà – Bình Phước

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Người dân ở đây rất tin tưởng, tín nhiệm cô giáo và nhà trường, gửi gắm tất cả sự trông đợi vào lớp học. Việc con em được đến lớp khiến các phụ huynh rất vui và yên tâm.

Tuy vậy, do điều kiện, các gia đình cũng chưa có sự đồng hành một cách sát sao với việc học tập của con em, mà gần như tất cả đều là "giao" cho cô giáo thôi. 

Theo Luật Giáo dục mới, chính sách cử tuyển cho học sinh dân tộc tốt nghiệp THPT vào học tại các trường đại học, cao đẳng có thay đổi như thế nào? Có ý kiến cho rằng, chính sách này dù rất thiết thực nhưng triển khai hiệu quả chưa được như mong muốn, chất lượng đào tạo và sử dụng còn có những băn khoăn. Mong được nghe ý kiến của chuyên gia về nội dung này?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Giai đoạn trước, cả 3 khâu: Cử - Đào tạo - Sử dụng còn nhiều bất cập (Đơn vị chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất với Bộ GD&ĐT).

Chế độ cử tuyển trong Luật Giáo dục năm 2019 thay đổi cả về đối tượng, đào tạo và sử dụng (Điều 87). Tôi tin rằng trên cơ sở Luật Giáo dục, Bộ GD&ĐT và các Bộ ngành liên quan có văn bản hướng dẫn thực hiện thì việc Cử - Đào tạo - Sử dụng sẽ được cải thiện.

Xin ông chia sẻ một số kết quả đạt được từ việc thực hiện Nghị định 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người?

[email protected]

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

 

Về ưu tiên trong tuyển sinh DTTS rất ít người: Trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người được ưu tiên vào học tại các cơ sở giáo dục phù hợp theo nguyện vọng: Trẻ mẫu giáo được học tại các trường mầm non; trường, lớp mẫu giáo công lập; Học sinh tiểu học được học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, trường tiểu học; Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học được vào học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường trung học cơ sở; Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tuyển thẳng vào học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp và trung cấp; Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông được xét tuyển thẳng vào học tại các trường, khoa dự bị đại học, các cơ sở giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Các địa phương, các cơ sở giáo dục đã thực hiện nghiêm túc qui định về ưu tiên trong tuyển sinh đối với các DTTS rất ít người trên địa bàn.

Hỗ trợ chi phí học tập: Riêng đối với trẻ em, học sinh, sinh viên 16 DTTS rất ít người, trong 3 năm học vừa qua (từ 2017 đến 2020) đã có 15.384 lượt trẻ mầm non, 32.899 lượt học sinh các cấp học phổ thông, 236 học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp được hỗ trợ chi phí học tập (theo quy định tại Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ Quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên DTTS rất ít người).

Theo chuyên gia, cần thêm cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển giáo dục dân tộc?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Theo tôi, chính sách đặc thù là chính sách theo vùng miền, chính sách dân tộc (tộc người) để bảo đảm trẻ em 53 dân tộc thiểu số được tiếp cận công bằng với giáo dục.

Được biết, trong thời gian qua, ngành Giáo dục đã chú trọng thực hiện nhiều chính sách cho cán bộ quản lý, giáo viên công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Điều này giúp đội ngũ GV thêm gắn bó với nghề, với học sinh DTTS thế nào, thưa ông?

[email protected]

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Nhà giáo công tác tại vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, ngoài việc được hưởng các chính sách chung đối với nhà giáo theo quy định, còn được hưởng thêm các chính sách khác, như: Phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thu hút, phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn; trợ cấp lần đầu, trợ cấp chuyển vùng,…

Chính sách hỗ trợ nhà giáo công tác ở vùng đặc biệt khó khăn là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm động viên, thu hút và tạo điều kiện cho nhà giáo, CBQLGD đến công tác tại vùng đặc biệt khó khăn đóng góp công sức đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Các chính sách hỗ trợ đã góp phần giảm bớt những khó khăn về vật chất, cải thiện được cuộc sống đối với nhà giáo, CBQLGD công tác ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, giúp nhà giáo, CBQLGD yên tâm công tác, gắn bó và tâm huyết với con em đồng bào DTTS, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thầy cô nhận được sự quan tâm của Nhà nước càng xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp GD ở vùng còn nhiều khó khăn.

Thực tế hiện nay, cô thấy cái thiếu nhất, cần nhất đối với các em nhỏ nơi cô đang công tác là gì?

Ngân Nga – Hải Phòng

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Đặc thù ở xóm Đồng Tâm là 100% các hộ đều là đồng bào Mông, các gia đình chỉ nói tiếng dân tộc mình, cho nên không có sự trang bị về tiếng Việt để làm hành trang cho các em nhỏ trước khi vào học lớp 1. Chúng tôi rất cần mỗi bậc phụ huynh, mỗi gia đình đều hiểu điều này để cùng với cô giáo nỗ lực giúp các em chuẩn bị vốn ngôn ngữ cần thiết. Điều này vô cùng quan trọng trong việc học tập của các em.

Cô Thìn tận tình hướng dẫn từng con chữ cho các em nhỏ

Đâu là vấn đề cần quan tâm nhất hiện nay đối với giáo dục dân tộc, nhất là khi chúng ta đang triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Tôi cho rằng, những vấn đề quan tâm vẫn phải là:

- Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cả về số lượng và chất lượng.

- Cơ sở vật chất, thiết bị thực hiện chương trình mới (Trong bối cảnh bất khả kháng thiên tai, dịch bệnh. Ví dụ: Đại dịch Covid-19 các tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi hết sức khó khăn trong dạy- học trực tuyến).

- Chính sách hỗ trợ thực hiện chương trình mới.

Trong quá trình thực hiện công tác giáo dục dân tộc, ngành GD&ĐT Điện Biên đã gặp phải những khó khăn gì thưa ông?

Nguyễn Hằng (Hòa Bình)

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Trong quá trình thực hiện công tác giáo dục dân tộc, ngành GD&ĐT Điện Biên đã gặp phải những khó khăn như:

Về tổ chức hoạt động dạy và học: Chất lượng giáo dục ở một số trường vùng xa, vùng điều kiện khó khăn, các điểm bản chuyển biến còn chậm. Hiện tượng di dịch cư tự do vẫn còn diễn ra ở một số thôn bản nên ảnh hưởng đến tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần.

Tổ chức hoạt động giáo dục, lao động, văn hóa thể thao cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh bán trú.

Công tác tổ chức hoạt động giáo dục, quản lý học sinh ở nhiều trường còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các dụng cụ, sân chơi bãi tập; học sinh người dân tộc thiểu số nhút nhát, thiếu tự tin, thiếu kỹ năng khi tham gia, tổ chức các hoạt động tập thể.

Về công tác quản lý, nuôi dưỡng và chăm sóc học sinh bán trú, dân tộc thiểu số:  Nguồn ngân sách chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách Trung ương, do đó việc phân bổ kinh phí triển khai, thực hiện chính sách có thời điểm chưa kịp thời. Một số trường ở các xã vùng đặc biệt khó khăn không có hệ thống nước sạch, thường xuyên bị thiếu nước, mất nước vào mùa hanh khô (cao điểm tại các tháng 3,4,5)ảnh hưởng đến sinh hoạt và công tác chăm sóc, nuôi dưỡng  học sinh bán trú.

Bên cạnh đó, về cơ sở vật chất, thiết bị:  Việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động dạy và học ở một số trường còn thiếu; nhiều công trình thiết yếu đã xuống cấp, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập, sinh hoạt, ăn, ở của học sinh vì vậy số học sinh phải tự sắp xếp chỗ ở bên ngoài, gây khó khăn cho công tác quản lý học sinh ngoài giờ học. Việc huy động các tổ chức, cá nhân, phụ huynh học sinh tham gia công tác xã hội hóa giáo dục còn hạn chế.

Thiếu giáo viên nhất là giáo viên dạy nhóm trẻ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên không đồng đều, việc tiếp cận và đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở một số giáo viên còn hạn chế.

Một số cơ sở giáo dục công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên thực hiện chưa đồng bộ (biểu hiện: nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng chưa phong phú), hiệu quả công tác tự bồi dưỡng ở một số đơn vị chưa cao.

Về công tác xã hội hóa để phục vụ các hoạt động giáo dục dân tộc tại các trương phổ thông: Công tác xã hội hóa để phục vụ các hoạt động giáo dục dân tộc của một số trường phổ thông còn hạn chế do điều kiện kinh tế của nhân dân địa phương khó khăn, chủ yếu ở miền núi, vùng sâu, vùng xa dẫn đến nguồn kinh phí huy động ít. Nguồn xã hội hóa chủ yếu là nguồn hỗ trợ bằng hiện vật do các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm quyên góp ủng hộ (chăn màn quần áo ấm, sách vở và đồ dùng học tập cá nhân) cho học sinh bán trú.

Những khó khăn trên xuất phát từ những nguyên nhân như: Năng lực quản lý và khả năng hướng dẫn học sinh của một bộ phận CBQL, GV còn hạn chế. Hình thức tổ chức hoạt động giáo  dục  còn  chưa  phong  phú, cách  thức  tổ chức còn chưa hiệu quả.

Đa số học sinh là người dân tộc thiểu số trong diện hộ nghèo sống ở nơi vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, do vậy nhận thức về vai trò giáo dục của phụ huynh, của học sinh là chưa cao, vẫn còn tỉ lệ học sinh bỏ học do hoàn cảnh khó khăn, hủ tục lạc hậu (lấy vợ, lấy chồng sớm...); tập quán sinh hoạt của học sinh dân tộc vùng cao thiếu các kỹ năng cần thiết để tự chăm sóc bản thân và thích nghi với cuộc sống tập thể.

Khách quan mà nói, là tỉnh miền núi, biên giới, giao thông đi lại khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đời sống người dân vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn; có nơi chính quyền địa phương chưa phối hợp kịp thời với nhà trường trong việc tuyên truyền chính sách; một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con mình, chưa cung cấp kịp thời các thông tin để hoàn thiện hồ sơ thụ hưởng chính sách của học sinh.

Nguồn kinh phí phụ thuộc vào ngân sách Trung ương nên việc phân bổ, bố trí kinh phí thực hiện việc hỗ trợ chế độ cho học sinh, đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục hạn chế, có lúc chưa kịp thời. Nguồn xã hội hóa giáo dục cho hoạt động học tập, sinh hoạt của học sinh bán trú chưa nhiều.

Mức hỗ trợ cho học sinh dân tộc thiểu số các trường PTDTBT hiện hành chịu tác động của giá cả thị trường nên ảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn của học sinh. Việc khoán kinh phí nhân viên nấu ăn thấp, khó hợp đồng nhân viên nấu ăn ảnh hướng lớn đến công tác chăm lo đời sống cho học sinh.

Được biết, Bộ GD&ĐT đã ban hành Chương trình tiếng dân tộc thiểu số trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 (8 thứ tiếng). Xin ông cho biết một số công việc Bộ đang triển khai để thực hiện Chương trình này?

[email protected]

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Trong những năm vừa qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát triển ngôn ngữ các DTTS, việc dạy học tiếng DTTS đã được triển khai trong trường phổ thông ở nhiều địa phương vùng DTTS.

Thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ngày 15/9/2020, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 34/2020/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông môn học Tiếng Bahnar, Tiếng Chăm, Tiếng Ê đê, Tiếng Jrai, Tiếng Khmer, Tiếng Mông, Tiếng Mnông, Tiếng Thái. Để triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông môn học tiếng DTTS, Bộ đang tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ xây dựng SGK, xây dựng tài liệu hướng dẫn dạy học và tập huấn giáo viên triển khai thực hiện SGK tiếng DTTS, in ấn và cấp phát SGK tiếng DTTS theo nhu cầu cho các cơ sở giáo dục triển khai dạy học tiếng DTTS.

Làm thế nào để củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Để củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số, cần thực hiện tốt các vấn đề sau:

- Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên;

- Có chính sách hỗ trợ người dạy, người học phù hợp vùng miền, dân tộc (tộc người);

- Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số;

- Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Trong quá trình dạy đỗ các em, cô đánh giá thế nào về khả năng và tố chất của các em nhỏ dân tộc Mông?

[email protected]

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Các em nhỏ ở đây rất ngoan ngoãn, tự giác trong sinh hoạt và học tập, chơi với nhau rất gắn kết. Tuy vậy, phải nói thật rằng các em vẫn còn nhút nhát, rụt rè, khả năng giao tiếp còn hạn chế. Tôi cố gắng và tập trung nhất vào việc dạy môn Tiếng Việt để giúp các cháu nâng cao về khả năng ngôn ngữ, từ đó có nền tảng cho việc học tập các môn học khác được tốt hơn.

Khi bắt đầu theo học từ lớp 3 ở trường trung tâm xã, vì thay đổi môi trường học tập cho nên thời gian đầu cũng còn nhiều bỡ ngỡ, khó bắt nhịp với bạn mới lớp mới. Tuy vậy, về kiến thức, các em đã đọc thông viết thạo, cho nên sau khi quen với môi trường mới, các em vẫn theo kịp lớp học và hoàn thành tốt việc học tập.

 

 

Ở miền núi, tôi thấy sự quan tâm của gia đình đối với việc học luôn rất hạn chế. Nhiều hộ còn tạo điều kiện cho con em mình nghỉ học, bỏ học, theo bố mẹ đi nương. Vậy Điện Biên đã huy động và duy trì số lượng học sinh trong độ tuổi đi học như thế nào thưa ông?

Nhatkhanh***@gmail.com

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Sở GD&ĐT đã chỉ đạo các phòng GD&ĐT, các đơn vị trực thuộc thực hiện một số nội dung như:

Ổn định nề nếp học tập, sinh hoạt cho học sinh ngay từ đầu năm học. Tổ chức tốt tuần sinh hoạt tập thể giúp học sinh làm quen với môi trường học tập mới, tạo tâm thế yên tâm, sẵn sàng học tập cho học sinh.

Khảo sát chất lượng học sinh đầu cấp, đầu năm học để có kế hoạch xây dựng kế hoạch dạy học sát, phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh. Xây dựng chương trình dạy học tự chọn, nội dung phụ đạo kiến thức cho học sinh sau hè giúp học sinh tiếp cận với nội dung kiến thức giảng dạy chính khóa.

Có các biện pháp tư vấn tâm lý để học sinh tự tin; hỗ trợ quần áo, sách giáo khoa, vở viết để học sinh có đủ đồ dùng phục vụ học tập.

Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy; hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu tài liệu để bổ sung kiến thức. Sử dụng các hình thức đánh giá khác nhau, tăng cường đánh giá dùng nhận xét nhằm động viên, khích lệ học sinh.

Phối hợp với chính quyền địa phương, vận động nhân dân đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động các nguồn lực để đầu tư cho giáo dục như tăng cường các điều kiện thực hiện mục tiêu học sinh có đủ nơi ở, đủ ăn để học tập.

Thực hiện tốt các chế độ của nhà nước cho học sinh, đặc biệt là đối với những học sinh diện chính sách, tạo niềm tin cho học sinh và phụ huynh học sinh đối với nhà trường.

Tổ chức hợp lý các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trong và ngoài nhà trường tạo sự thu hút, tập trung của các em khi vào trường, giúp các em hăng hái hơn trong sinh hoạt và học tập, làm cho học sinh cảm nhận được mỗi ngày đến trường là một ngày vui.

Duy trì chế độ liên lạc thường xuyên giữa gia đình và nhà trường. Nắm bắt chế độ chuyên cần của học sinh, phát hiện những học sinh có nguy cơ bỏ học, tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp vận động phù hợp.

Nhận định của ông về vai trò của hệ thống trường Phổ thông dân tộc bán trú ở nhiều vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, vùng DTTS, miền núi?

Dương Thị Anh, huyện Mê Linh, Hà Nội

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Trường PTDTBT có ở 29 tỉnh/thành phố với 1.134 trường, quy mô 250.795 học sinh bán trú. Ngoài ra còn có 2.273 trường phổ thông có trên 161.000 HS bân trú.

Nhờ có hệ thống trường PTDTBT, chất lượng GD của HS DTTS có nhiều chuyển biến rõ rệt, tỷ lệ HS đến trường tăng cao, HS lưu ban, bỏ học ngày càng giảm, tỷ lệ HS hoàn thành và tốt nghiệp các cấp học tăng; ở môi trường tập thể năng lực tiếng Việt của HS DTTS được tăng cường, các em được GD về kỹ năng sống, biết tự chăm sóc bản thân, tự tin, năng động hơn, số HS các DTTS được tiếp tục theo học ở các trình độ cao hơn ngày càng nhiều.

Một trong những khó khăn của giáo dục dân tộc hiện nay là vấn đề đội ngũ. Theo chuyên gia, cần có giải pháp căn cơ như thế nào để phát triển đội ngũ giáo viên vùng dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc.

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Tôi cho rằng vấn đề đào tạo/bồi dưỡng giáo viên vẫn là giải pháp cần được ưu tiên trong đó hướng tới việc thay đổi phương thức đào tạo/bồi dưỡng:

- Bồi dưỡng trực tiếp thay cho bồi dưỡng cốt cán;

- Cử chuyên gia giáo dục (từ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) trực tiếp đến địa phương để hỗ trợ giáo viên thực hiện chương trình mới - ít nhất là 5 năm của chu kì đầu tiên thực hiện chương trình mới.

Việc mở rộng mạng lưới trường lớp, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến lớp cũng là một trong số những giải pháp quan trọng. Điện Biên thực hiện công tác này ra sao?

Hiền Ninh (Móng Cái, QN)

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Ông Nguyễn Văn Kiên (trái) trả lời câu hỏi của độc giả Báo GD&TĐ tại điểm cầu Điện Biên.

 

Điện Biên là tỉnh vùng cao, biên giới, địa hình hiểm trở, núi cao, độ dốc lớn, nhiều sông suối chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, dân cư phân tán; có 19 dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 81,2%; đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 42,82%.

Trong điều kiện hoàn cảnh đó, ngành Giáo dục và Đào tạo Điện Biên luôn xác định để nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục, nâng cao cơ hội đến trường cho học sinh thì phải mở rộng mạng lưới trường lớp, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh học tập. Trong các năm qua, Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên đã tham mưu các cấp lãnh đạo xây dựng Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo, triển khai các đề án xây dựng, kiên cố hóa trường lớp học. Đến nay mạng lưới trường, lớp đã phát triển khá đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. 100% xã có trường, lớp cho học sinh mầm non, tiểu học, THCS; trung tâm cụm xã và trung tâm huyện, thị, thành phố đều có trường THPT.

Thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của Tỉnh ủy và các chỉ đạo, hướng dẫn của UBND tỉnh, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo rà soát, sắp xếp lại các trường, lớp học, nhằm tinh giản đầu mối và biên chế. Đã thực hiện sáp nhập 7 trung tâm GDTX với trung tâm GDNN để thành lập 7 trung tâm GDNN-GDTX, giảm 7 trung tâm; giải thể 1 trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp; phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng và thực hiện đề án sáp nhập 93 trường mầm non, tiểu học, THCS giảm 45 đơn vị.

Kết quả, công tác sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục được thực hiện hợp lý, nâng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của mỗi địa phương, địa bàn cụ thể. Mạng lưới trường lớp được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn nhưng vẫn đảm bảo phục vụ nhu cầu học tập của học sinh. Quy mô học sinh ổn định ở các cấp học tiểu học, THCS, THPT và phát triển nhanh ở cấp học mầm non. Tỷ lệ huy động dân số trong độ tuổi đến trường tiếp tục tăng ở các cấp học, đặc biệt là giáo dục mầm non.

Để tạo nguồn đào tạo nhân lực chất lượng cao cho vùng DTTS miền núi thì vai trò của trường Phổ thông dân tộc nội trú, Dự bị đại học rất quan trọng. Xin ông nêu khái quát về những kết quả đạt được từ việc phát triển hệ thống trường này?

[email protected]

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Giai đoạn vừa qua, Bộ hết sức chú trọng việc củng cố, phát triển hệ thống, quy mô các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), dự bị đại học (DBĐH) góp phần nâng cao chất lượng tạo nguồn đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các DTTS.

Năm học 2019-2020, toàn quốc có tổng số 320 trường PTDTNT ở 49 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương với tổng số 105.818 học sinh nội trú (tăng so với năm học 2015-2016 là 6 trường và 14.625 HS), trong đó có 3 trường trực thuộc Bộ GD&ĐT có đào tạo hệ PTDTNT là các trường: Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, Hữu nghị 80 và Hữu nghị T78. Các trường PTDTNT thực sự là những trường đầu tàu, mũi nhọn về chất lượng GD của vùng DTTS, miền núi. Tỷ lệ HS đỗ tốt nghiệp các cấp học hàng năm đều đạt 100%, nhiều trường PTDTNT cấp tỉnh (Nghệ An, Tuyên Quang, Hà Giang, Thanh Hóa, Hòa Bình...) có tỷ lệ HS đỗ thẳng vào ĐH chỉ đứng sau trường chuyên của tỉnh. Nhiều HS học PTDTNT đoạt giải quốc gia các cuộc thi văn hóa, KHKT hoặc đỗ thủ khoa vào các trường ĐH...

Toàn quốc hiện có 4 trường DBĐH (DBĐH dân tộc Trung ương, DBĐH dân tộc Sầm Sơn, DBĐH dân tộc Nha Trang, DBĐH TP Hồ Chí Minh); 1 trường PTDTNT trực thuộc Bộ có đào tạo hệ DBĐH dân tộc (Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc) và 4 khoa DBĐH dân tộc thuộc các trường đại học (Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Trà Vinh, Học viện Dân tộc), với quy mô gần 4.000 HS dự bị/năm. 

HS sau thời gian dự bị 1 năm có sự tự tin về kiến thức và kỹ năng để theo học ở những trình độ cao hơn.

Quan điểm của ông như thế nào về việc đảm bảo, nâng cao chất lượng dạy tiếng dân tộc và tiếng Việt cho trẻ miền núi?

Hạ Phạm (Lai Châu)

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tiếng dân tộc đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình môn học và biên soạn sách giáo khoa cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Tỉnh Điện Biên có 2 thứ tiếng được giảng dạy tại các cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn, đó là tiếng Mông và tiếng Thái.

Để đảm bảo chất lượng giáo dục tiếng dân tộc, trước hết các Sở Giáo dục và Đào tạo phải quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc có trình độ và được cấp bằng đào tạo chính quy (hiện nay đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc mới được đào tạo tập trung 1 năm , hoặc qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn tại các Trường Cao đẳng Sư phạm).

Công tác tuyên truyền đến các cấp, các ngành và gia đình học sinh về việc bảo tồn văn hóa, di sản của các dân tộc cũng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để tạo được sự đồng thuận của cha mẹ học sinh trong quá trình tổ chức dạy học môn tiếng dân tộc trong các cơ sở giáo dục.

Việc dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc miền núi phải được đội ngũ giáo viên coi như dạy học sinh ngôn ngữ thứ hai; do vậy các cơ sở giáo dục phải tạo điều kiện để học sinh tiểu học phát triển ngôn ngữ thứ nhât (tiếng mẹ đẻ); coi trọng việc xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc ngay từ các lớp học, trường học, nơi công cộng và các phương tiện thông tin, truyền hình, đài phát thanh...

Hiện nay, việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh trong các trường phổ thông được tiến hành như thế nào? Việc thực hiện chế độ chính sách đối với người dạy, người học tiếng dân tộc thiểu số được các địa phương thực hiện ra sao?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Hiện nay, Bộ GD&ĐT đã triển khai xây dựng chương trình và sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số với 8 thứ tiếng (Mông, Thái, Chăm, Banah, Jrai, Khmer, Ê đê, M’nông); và triển khai thực hiện từ lớp 1-12 tương đương với 2 bậc (bậc A bao gồm trình độ A1 tương ứng với cấp tiểu học; trình độ A2 tương ứng với cấp THCS; bậc B/trình độ B tương ứng với cấp THPT; Chính sách cho người dạy đã có phụ cấp 0,3.

Khó khăn nhất hiện nay là rất thiếu/không có giáo viên dạy tiếng dân tộc; cần đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số.

Tôi thấy nhiều nơi còn thiếu cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học. Đó cũng là những thiệt thòi, tác động không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ. Vấn đề này ở Điện Biên như thế nào thưa ông?

[email protected]

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Cơ sở vật chất là điều kiện cần để tổ chức các hoạt động giáo dục cũng như đảm bảo chất lượng giáo dục. Trong các năm qua Sở Giáo dục và Đào tạo đã tích cực tham mưu với UBND tỉnh, chỉ đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị trực thuộc tham mưu chính quyền địa phương bố trí nguồn kinh phí từ ngân sách, huy động các nguồn lực hợp pháp để ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học.

Tuy nhiên do điều kiện khó khăn chung của tỉnh, ngành giáo dục vẫn còn 25,7% phòng bán kiên cố và 5,8% phòng học tạm; Nhiều phòng học, phòng bộ môn đã được xây dựng kiên cố từ các giai đoạn trước có diện tích nhỏ hơn theo quy định hiện hành. Kinh phí đầu tư cho giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu thay thế phòng học tạm, sửa chữa phòng học xuống cấp hư hỏng, xây dựng phòng học mới. Thiếu phòng tin học, phòng bộ môn, nhà nội trú, nhà công vụ... thiết bị dạy học mới chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu để tổ chức dạy học, điều này tác động không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Đề tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học và đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án đảm bảo cơ sở vật chất cho chương trình mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017-2020; lồng ghép hỗ trợ thực hiện Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2021-2025 thông qua chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu của ngành Giáo dục và Đào tạo, các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; cân đối, bố trí nguồn vốn ngân sách địa phương bảo đảm đủ nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục.

Ưu tiên đầu tư nhà nội trú học sinh, nhà công vụ cho giáo viên, công trình vệ sinh, công trình nước sạch, đặc biệt là cơ sở vật chất cho các trường mầm non, phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú. Rà soát và lựa chọn đầu tư chuẩn hóa hệ thống phòng học bộ môn, phòng học chức năng, phòng thư viện, thí nghiệm theo tiêu chuẩn hiện hành Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động tối đa mọi nguồn lực để tiếp tục sửa chữa, cải tạo, bổ sung cơ sở vật chất, thiết bị đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.

Những giải pháp này đã từng bước phát huy hiệu quả, học sinh đến trường đã có môi trường học tập, vui chơi, sinh hoạt an toàn, sạch đẹp, giảm bớt thiệt thòi trong thụ hưởng giáo dục đối với học sinh, góp phần rút ngắn khoảng cách về chất lượng giáo dục ở các khu vực khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên so với các khu vực thuận lợi khác.

Trong hành trình gần 20 năm trực tiếp dạy dỗ ở một lớp học 100% là con em đồng bào Mông, cô thấy điều gì là khó khăn, thử thách lớn nhất?

[email protected]

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Khó khăn nhất với lớp học là sự hạn chế về tiếng Việt của các em. Trước khi vào lớp 1, các em chỉ biết tiếng Mông, chưa nói được tiếng Việt. Bản thân tôi phải tự học tiếng Mông để giao tiếp, hướng dẫn, dần dần giúp các em tiếp cận tiếng Việt. Riêng với lớp 1, mình vừa là cô giáo vừa là "phiên dịch" luôn đấy.

Hơn nữa, do điều kiện đời sống còn khó khăn, bố mẹ các cháu chủ yếu phải đi làm thuê, lo cho cuộc sống, cho nên không sát sao chăm lo được con cái. Là cô giáo đứng lớp, được dân bản tin cậy gửi gắm, ngoài việc dạy học thì tôi cũng phải quan tâm các em từ chuyện đi lại, sinh hoạt, sức khỏe... 

Niềm vui của các em nhỏ người HMông khi được đến lớp

Hiện nay, việc kéo gần khoảng cách giữa giáo dục vùng khó với giáo dục các vùng thuận lợi đã đạt được những kết quả như thế nào, mong chuyên gia chia sẻ.

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa vùng kinh tế - xã hội khó khăn và vùng thuận lợi luôn tồn tại. Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế - xã hội vùng khó và vùng thuận lợi qui định khoảng cách về chất lượng giáo dục ở hai vùng này.

Tuy nhiên, khoảng cách về tỉ lệ học sinh được đến trường (cả 3 cấp) đã được thu hẹp, nếu xét phạm vi hẹp ở một số tỉnh khoảng cách này bằng không (Tuyên Quang, Lào Cai, Lạng Sơn, Hòa Bình,…). Song cũng có mặt khoảng cách đang tăng dần như: tỉ lệ học sinh học tiếp THPT (thấp hơn qui định trong quyết định số 522/QĐ-TTg), tỉ lệ học sinh về địa phương sau THCS và THPT. 

Một số nơi có cùng điều kiện với Điện Biên đã thực hiện dạy học sát đối tượng và phát huy vai trò của tổ cốt cán hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên các huyện vùng khó. Giải pháp này có được Điện Biên áp dụng?

[email protected]

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị Quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị trung ương 8 khóa 11, Sở Giáo dục và Đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện hiệu quả Mô hình trường học mới (VNEN) với mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đội ngũ giáo viên của ngành đã thực hiện triệt để và hiệu quả việc dạy học phân loại học sinh theo nhóm trình độ nhận thức, xây dựng chương trình giáo dục nhà trường sát với đối tượng học sinh các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Chương trình đảm bảo chất lượng trường học (Seqap) của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn, chỉ đạo các cơ sở giáo dục cấp Tiểu học xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán có trình độ chuyên môn vững vàng; tổ chức thực hiện sinh hoạt chuyên môn hàng tuần theo hướng quan sát lớp học, lấy học sinh làm trung tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của các cơ sở giáo dục.

Sở Giáo dục và Đào tạo đã chọn cử những giáo viên cốt cán có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy đến các cơ sở giáo dục tiểu học vùng đặc biệt khó khăn để giảng dạy trực tiếp cho học sinh dân tộc các môn "Tiếng Việt lớp 1", dạy học môn Toán, Tự nhiện xã hội, khoa học, Lịch sử  theo định hướng phát triển năng lực của Mô hình trường học mới (VNEN).

Để góp phần vào việc phát triển đội ngũ trí thức, nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng DTTS, ngành GD có các chế độ ưu tiên thế nào với học sinh sau khi tốt nghiệp THPT được tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, thưa ông?

Trần Văn Thành, huyện Thạch Thất, Hà Nội

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ đối với HS, SV người DTTS.

 

Xác định nguồn nhân lực DTTS sẽ quyết định đến sự phát triển KT-XH của các địa phương, do đó Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ đối với HS, SV người DTTS. Cụ thể như:

- Tuyển thẳng vào đại học:

 Thí sinh là người DTTS rất ít người và thí sinh thuộc các huyện nghèo (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 và Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 05/02/2013) được xét tuyển thẳng vào học đại học, cao đẳng.

- Cộng điểm ưu tiên trong tuyển sinh:

Thí sinh là người DTTS ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn được hưởng ưu tiên theo đối tượng (nhóm ưu tiên 1) và ưu tiên theo khu vực khi dự thi vào trường đại học, cao đẳng theo Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy; thí sinh có hộ khẩu thường trú tại các địa phương thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ khi xét tuyển vào các cơ sở đại học đóng trên địa bàn thì được ưu tiên 1 điểm

- Ưu tiên trong tổ chức đào tạo: Tổ chức bồi dưỡng bổ sung văn hóa 1 năm cho các SV được xét tuyển thẳng vào đại học theo Nghị quyết số 30a của Chính phủ và SV cử tuyển theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP.

- Chính sách cử tuyển : Cử tuyển là một trong nhiều giải pháp quan trọng có hiệu quả góp phần tăng cường đội ngũ cán bộ là người DTTS cho các tỉnh miền núi, vùng DTTS; là giải pháp mang tính phát triển bền vững nguồn nhân lực, cần thiết đối với các tỉnh có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn. Chính phủ ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Nghị định số 49/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP. Theo đó, từ năm 2006 đến nay, đã có hơn 20.000 HS, SV DTTS được cử tuyển vào học các trình độ ĐH, CĐ, TC. Cơ bản đáp ứng nhu cầu về đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cho các địa phương vùng DTTS, miền núi.

Chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho SV hộ nghèo, cận nghèo ở vùng KT-XH đặc biệt khó khăn. Chính sách học bổng khuyến khích học tập cho SV khá giỏi, xuất sắc; chính sách khen thưởng HS dân tộc thiểu số đoạt giải cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế…

Chuyên gia có thể cho biết các chính sách đối với giáo dục dân tộc hiện nay? Có những chính sách nào cần điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Có thể nói, đến nay đã khá nhiều chính sách dành cho giáo dục dân tộc. Đặc biệt, tại Luật Giáo dục năm 2019 có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, những qui định đối với giáo viên, cán bộ quản lý; trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú và cử tuyển,… liên quan đến giáo dục dân tộc đã thay đổi. Do vậy, các chính sách đối với người dạy, người học,… cần kịp thời điều chỉnh, sửa đổi hoặc ban hành mới để phù hợp với qui định của Luật Giáo dục 2019.

Một vấn đề hết sức quan trọng, đó là thực hiện các chế độ, chính sách thu hút trẻ đến trường. Công tác này được ngành GD&ĐT Điện Biên tham mưu, thực hiện ra sao?

Phạm Văn Tuyên (Hòa Bình)

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Trên cơ sở các quy định của Chính phủ, hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan, Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên đã tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản kịp thời triển khai thực hiện các chế độ, chính sách, pháp luật về hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi trên địa bàn tỉnh. Tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành chính sách đặc thù cho ngành giáo dục và bố trí ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục đào tạo trong tỉnh.

Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên đã hướng dẫn, chỉ đạo các cơ sở giáo dục  tổ chức tuyên truyền, phổ biến, thông tin đầy đủ về các chế độ, chính sách ưu đãi giáo dục đến học sinh, cha mẹ học sinh và toàn thể nhân dân trên địa bàn giáo dục. Sở Giáo dục và Đào tạo đã chủ động phối hợp với các Sở, ngành chức năng và các đơn vị liên quan, thực hiện đúng, đủ, kịp thời chế độ chính sách cho học sinh theo quy định hiện hành. Chỉ đạo các cơ sở giáo dục thực hiện các chế độ chính sách một cách nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng. Tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất hoặc lồng ghép trong các đợt thanh tra hành chính, kiểm định chất lượng để nâng cao tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện chế độ chính sách đối với học sinh. Kết quả, việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi giáo dục đã góp phần tăng tỉ lệ học sinh đến trường, duy trì sĩ số học sinh ổn định trong năm học góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Điện Biên.

Được biết, cô đã gắn bó rất lâu năm với điểm trường Đồng Tâm, trường Tiểu học Dương Tự Minh (Động Đạt, Phú Lương, Thái Nguyên). Điều gì đã níu giữ cô suốt hành trình dài như vậy?

[email protected]

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Để gắn bó được với điểm trường lâu dài như thế này, trước hết là vì tôi thực sự yêu quý các cháu nhỏ nơi đây. Tôi chỉ nghĩ đến việc làm sao để các cháu được đến lớp học, không em nào vì điều kiện khó khăn hay xa xôi mà phải bỏ học. 

Hơn nữa, là một người bản địa, nắm bắt được phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt của bà con, tôi rất đồng cảm với các gia đình nơi đây. Tôi thấy mình có sự gần gũi, thấu hiểu và dễ dàng chia sẻ với bà con. Cho nên, sự gắn bó với lớp học cũng là tự nhiên.

Lớp ghép tại điểm trường Đồng Tâm

Chuyên gia có thể cho biết, làm thế nào để triển khai dạy học hiệu quả với các lớp ghép, nhất là khi bắt đầu triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Tôi cho rằng, cần bồi dưỡng kĩ thuật dạy lớp ghép cho giáo viên dạy lớp ghép ở vùng dân tộc thiểu số. Việc này đơn vị chúng tôi đã thực hiện từ những năm 90 của thế kỉ trước và hiện nay chúng tôi đang có tài liệu hướng dẫn dạy lớp ghép theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới - một số địa phương đang sử dụng tài liệu của chúng tôi.

Ở các trường chuyên biệt trên địa bàn tỉnh Điện Biên, hiện nay quy mô, mạng lưới và chất lượng giáo dục có gì nổi bật thưa ông?

Trần Bình Nguyên (Quỳnh Nhai)

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Học sinh Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Điện Biên hứng thú học bài

Cấp tiểu học có 72 trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học với 1.392 lớp 34.275 học sinh. Số học sinh ở nội trú tại trường cả tuần 22.090 em (30,1%) tăng 2,8% so với năm học 2019-2020. Học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú được quan tâm đặc biệt từ khâu nuôi dưỡng, ăn ngủ, đến học tập và giáo dục phẩm chất. Các em được học tập đẩy đủ các môn học và hoạt động giáo dục trong  Chương trình giáo dục của Bộ. Ngoài ra các em còn được tham gia hoạt động tại các câu lạc bộ văn nghệ, thể dục thể thao, chương trình giáo dục kỹ năng sống, phòng chống tai nạn thương tích, quyền và bổn phận trẻ em.

Kết quả là học sinh các trường chuyên biệt đến nay đã khá tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Việt, chất lượng đọc hiểu, viết, tính toán của học sinh dân tộc đáp ứng yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học, hiện tượng học sinh bỏ học ở cấp Tiểu học giảm còn 0,02%.

Trẻ em người dân tộc thiểu số nói tiếng mẹ đẻ tại gia đình, khi đến trường, cô giáo nói tiếng Việt, chương trình giáo dục cũng được thực hiện bằng tiếng Việt. Đây là một khó khăn rất lớn đối với cả giáo viên và HS, nhất là khi các em bước vào lớp 1. Ngành GD có những giải pháp nào để khắc phục “rào cản” ngôn ngữ này, thưa ông?

Trang Linh, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Về tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS đã được Bộ GD&ĐT chú trọng chỉ đạo các địa phương vùng DTTS, miền núi thực hiện thường xuyên thông qua việc thực hiện Chương trình và các hoạt động giáo dục. Chính nhờ đó, đã có những hiệu quả tích cực trong công tác phổ cập GD, xóa mù chữ cho các vùng này.

Đặc biệt, giai đoạn từ 2016 đến nay, Bộ đã có Kế hoạch số 2805/QĐ-BGDĐT ngày 05/8/2016 triển khai thực hiện Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025.

Kế hoạch tập trung vào những nhiệm vụ sau: Biên soạn tài liệu chuẩn bị và tăng cường tiếng Việt phù hợp với thực tế của địa phương, qua đó có tác dụng tốt trong việc chuẩn bị vốn tiếng Việt cho trẻ. Xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ em, học sinh DTTS: chú trọng xây dựng môi trường giao tiếp, giao lưu tiếng Việt cho trẻ em, học sinh DTTS thông qua hoạt động dạy học của các môn học và trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa, hoạt động trải nghiệm; tổ chức hiệu quả chương trình giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cho học sinh DTTS cấp tiểu học.

Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang tổng kết Đề án 1008 giai đoạn 2016-2020, xác định những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể phù hợp cho giai đoạn 2021-2025.

Nhiều năm nay, ngành Giáo dục đã quan tâm tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số. Chuyên gia đánh giá như thế nào về hiệu quả của công tác này cho đến nay? Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số còn gặp những khó khăn như thế nào và đâu là giải pháp cho những khó khăn này?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

TS Trần Thị Yên trả lời độc giả

Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số là vấn đề ngành giáo dục đã quan tâm thực hiện từ những năm 50 của thế kỉ trước với nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Đơn vị chúng tôi thực hiện từ những năm 50 và hiện nay vẫn đang thực hiện và đã đạt được kết quả khả quan. Ví dụ, giải pháp mà chúng tôi đã thử nghiệm khá hiệu quả và hiện nay tiếp tục được nhân rộng đó là “giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” nhằm giúp trẻ em người dân tộc thiểu số tiếp cận với tiếng Việt và tri thức một cách nhanh chóng và thuận lợi.

Khó khăn lớn nhất của việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số mới chỉ tập trung thực hiện trong môi trường nhà trường mà chưa thực hiện được ở gia đình và cộng đồng (nếu có cũng manh mún, không đáng kể), nên kết quả chưa được như mong đợi. Giải pháp tối ưu là thiết lập được 3 môi trường tiếng Việt: nhà trường - gia đình - cộng đồng.

Xin ông nói rõ hơn về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, tăng cường công tác quản lý giáo dục dân tộc?

Minh Nam (Tuyên Quang)

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Điện Biên chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.

 

Sở GD&ĐT đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công tác tổ chức và cán bộ năm học 2019 - 2020, trong đó công tác quản lý và nâng cao đạo đức nhà giáo là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức nhà giáo, quy chế làm việc và quy tắc ứng xử của đơn vị tới tất cả cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, người lao động.

Triển khai Kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo đến toàn thể công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nền nếp, kỷ cương trường học; xử lý nghiêm các giáo viên, nhân viên, người lao động có hành vi vi phạm đạo đức, hành vi bạo hành thể chất, tinh thần học sinh và người đứng đầu cơ sở giáo dục để xảy ra các vụ việc vi phạm. 

Tiếp tục thực hiện các giải pháp ổn định tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức viên chức nhằm đảm bảo nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020; hướng dẫn, chỉ đạo các cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ công tác tổ chức cán bộ định kỳ hằng năm, qua đó đã khắc phục phần nào tình trạng thiếu giáo viên hiện nay đặc biệt là cấp học mầm non.

Phối hợp với Sở Nội vụ thực hiện quy trình thẩm định hồ sơ xét/thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với đội ngũ ngà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trong năm học toàn ngành có 28 giảng viên tham gia dự thi thăng hạng và được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp Giảng viên hạng II; 12 giáo viên tham gia dự thi và được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng I, 49 giáo viên Trung học phổ thông chưa đạt chuẩn được xét bổ nhiệm và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp giáo viên Trung học phổ thông hạng III. Tại các Phòng GDĐT, đã có hàng trăm giáo viên mầm non, tiểu học, THCS được xét thăng hạng theo quy định.

Triển khai đầy đủ, nghiêm túc các chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành như: chế độ lương, phụ cấp theo lương, chế độ thanh toán tăng giờ, thanh toán phép, công tác phí và các chế độ chính sách khác theo quy định hiện hành; ban hành Công văn số 1362/SGDĐT-TCCB ngày 15/07/2020 về việc thực hiện chế độ, chính sách đối với nhà giáo hướng dẫn các đơn vị về thực hiện chế độ nghỉ hè, nghỉ phép, nghỉ thai sản, cách tính tăng giờ đối với giáo viên trong thời gian nghỉ dịch Covid-19... để đảm bảo quyền lợi và đúng chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về công tác thi đua, khen thưởng trong toàn ngành. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng từ cấp trường đến cấp ngành đã được kiện toàn. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng ngành đã tăng cường tham mưu quản lý, chỉ đạo, tổ chức có hiệu quả công tác TĐKT trong ngành. Thông qua việc tham gia các hoạt động Cụm, Khối thi đua, các cơ sở giáo dục đã xây dựng được lộ trình phấn đấu phù hợp với điều kiện đặc thù và nội lực, đảm bảo các hoạt động thi đua, bình xét khen thưởng được thực hiện thiết thực, góp phần chống bệnh thành tích và hình thức, thúc đẩy phong trào thi đua chung của toàn ngành.

Tham gia tích cực các hoạt động của Khối thi đua Văn hóa - Xã hội của tỉnh và thực hiện tốt vai trò Cụm trưởng Cụm Thi đua số 4 (gồm Sở GD&ĐT của 7 tỉnh miền núi biên giới phía Bắc)

Để bảo tồn, phát văn hóa dân tộc các DTTS, Bộ GD&ĐT đã và đang triển khai những cách thức nào vào trường học, thưa ông?

[email protected]

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Bộ đã thực hiện và hiện nay đang tích cực chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đội ngũ nhà giáo thực hiện: Chỉ đạo khai thác ngữ liệu, văn hóa các DTTS phù hợp với đặc điểm vùng miền, đối tượng HS để đưa vào nội dung bài dạy; đặc biệt trong việc xây dựng CT, SGK GDPT mới thì quan điểm chỉ đạo này đã được quán triệt xuyên suốt;

Hướng dẫn các địa phương xây dựng nội dung giáo dục địa phương trong CTGDPT mới: đặc biệt đối với các địa phương ở vùng DTTS miền núi thì văn hóa dân tộc chiếm hàm lượng lớn trong nội dung giáo dục địa phương.

Chỉ đạo các cơ sở GD tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, trò chơi dân tộc, tái hiện lễ hội, ngày tết dân tộc,… Các hoạt động này được tổ chức bài bản trong các trường PTDT nội trú và bán trú kết hợp với sự phối hợp của ngành văn hóa, thể thao. Tiêu biểu như: Lễ hội Lồng Tồng ở trường PTDT nội trú Lào Cai; tái hiện sinh hoạt thường ngày của dân tộc Mường ở trường PTDT nội trú Ngọc Lạc- Thanh Hóa; Lễ hội Cồng chiêng ở các trường DTNT Kon tum, Đăk Lăk, Gia Lai; hát Xoan ở một số trường của Phú Thọ...

Mời chuyên gia, trí thức, nghệ nhân DTTS giới thiệu, truyền dạy văn hóa, nghề truyền thống cho HS trong các cơ sở giáo dục. Sắp tới, mô hình này sẽ được triển khai mạnh mẽ khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025.

Tổ chức dạy học tiếng nói, chữ viết DTTS trong các cơ sở giáo dục: Hiện nay, có 6 tiếng DTTS được tổ chức dạy chính thức trong các cơ sở giáo dục phổ thông với hơn 700 trường, qui mô khoảng 150.000 HS học các thứ tiếng: Chăm, Khơ me, Mông, Gia rai, Ba na, Ê đê. Bên cạnh đó còn một số thứ tiếng đang được các địa phương dạy thực nghiệm như: Thái, Mơ nông, Hoa, Cơ tu… với hàng chục nghìn HS theo học.

Chuyên gia nhận diện những khó khăn và giải pháp trong đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các vùng dân tộc thiểu số như thế nào?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

Hệ thống trường chuyên biệt (cả trường chuyên, trường phổ thông dân tộc bán trú, phổ thông dân tộc nội trú,…) ở vùng dân tộc thiểu số là mũi nhọn của giáo dục dân tộc, nên chất lượng giáo dục của hệ thống trường này chính là nguồn đào tạo nhân lực chất lượng cao cho vùng dân tộc thiểu số.

Xin cô chia sẻ một vài nét để độc giả có thể hình dung về lớp học của các học sinh dân tộc Mông tại điểm trường Đồng Tâm?

Vũ Quỳnh Anh – Hà Nội

Cô Nông Thị Thìn

GV Trường Tiểu học Dương Tự Minh (huyện Phú Lương, Thái Nguyên)

Cô giáo Nông Thị Thìn - điểm trường Đồng Tâm, Trường Tiểu học Dương Tự Minh (Động Đạt, Phú Lương, Thái Nguyên) trao đổi tại buổi giao lưu trực tuyến

 

Điểm trường bắt đầu được hình thành từ năm 1990, dành cho các cháu nhỏ con em dân tộc Mông của xóm Đồng Tâm. Năm học 2020 - 2021 này, điểm trường có 3 học sinh lớp 1 và 10 học sinh lớp 2, học chương trình lớp ghép. Từ điểm trường ra trường trung tâm xã khoảng 7km. Sau khi học xong lớp 2, các em sẽ theo học tiếp ở trường trung tâm xã. 

Rất nhiều tổ chức, cá nhân đã chung tay cùng chính quyền địa phương và ngành GD vùng DTTS xây thêm điểm trường để tạo thêm cơ hội đến trường cho HS dân tộc. Ông đánh giá thế nào về việc đẩy mạnh xã hội hóa trong nâng cao chất lượng giáo dục vùng DTTS?

[email protected]

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Thời gian qua, các địa ph­ương đã tích cực huy động, vận động các nguồn lực, cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm ủng hộ, quyên góp hỗ trợ phát triển GD ở miền núi, vùng DTTS.

Nhiều cơ quan, doanh nghiệp, công ty, các tổ chức xã hội trong n­ước, các tổ chức phi chính phủ, các nhà hảo tâm không chỉ đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục, mà còn tham gia vào các hoạt động thiết thực khác: như Bộ đội biên phòng, Đoàn TNCS HCM, Hội Phụ nữ, Cựu chiến binh,... tham gia dạy chữ cho đồng bào và con em các dân tộc. Một số xã biên giới được Quân đội giúp xây dựng trường, lớp học khang trang, kiên cố hoặc bán kiên cố. Nhân dân ở một số tỉnh đã hiến đất để xây dựng trư­ờng học. Các tổ chức quốc tế như UNICEF, UNESCO..., các tổ chức phi chính phủ như OXFAM, Liên minh các tổ chức hỗ trợ trẻ em, tổ chức ChildFund ... đã tích cực hỗ trợ cho giáo dục vùng dân tộc, miền núi phát triển thông qua các dự án cụ thể về tăng cường cơ sở vật chất, năng lực dạy học của giáo viên; về giáo dục ngôn ngữ, văn hoá các DTTS; phát triển kỹ năng cho trẻ em, phụ huynh HS trong nhà trường và cộng đồng...

 Mặc dù còn khó khăn, nhưng công tác xã hội hoá giáo dục ở vùng dân tộc, miền núi bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc huy động các nguồn lực sẵn có của địa phương, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế cho phát triển giáo dục đào tạo, đã tạo ra một diện mạo mới cho giáo dục ở các vùng DTTS.

Để tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa trong nâng cao chất lượng giáo dục vùng DTTS, Bộ GD&ĐT đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 588/QĐ-TTg ngày 17/5/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ trẻ em các xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2019-2025.

Vào đầu tháng 11 năm 2020, tại Nghĩa Lộ- Yên Bái, Bộ GD&ĐT đã tổ chức Lễ phát động vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ cho trẻ em các xã đặc biệt khó khăn. Đã có nhiều cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ vật chất, kinh phí cho các trường học trên địa bàn. Trong thời gian tới, Bộ sẽ tạo sự kết nối giữa các tổ chức, cá nhân hảo tâm với các cơ sở giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn để có sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của các đối tượng HS.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục dân tộc mà Đảng và Nhà nước giao phó, ngành GD&ĐT Điện Biên rút ra những bài học kinh nghiệm gì trong công tác này?

[email protected]

Ông Nguyễn Văn Kiên

Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục dân tộc mà Đảng và Nhà nước giao phó, ngành GD&ĐT Điện Biên rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, cụ thể như:

Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp bám sát mục tiêu giáo dục đào tạo của Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, các chỉ tiêu kế hoạch năm học 2020-2021được UBND tỉnh giao;xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, kỷ cương; tăng cường an ninh, an toàn trường học; chú trọng công tác giáo dục thể chất, y tế trường học; xây dựng văn hóa học đường, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.

Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục dân tộc; tiếp tục thực hiện các giải pháp giải quyết tình trạng thiếu giáo viên; tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng thực hiện chương trình hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1, chuẩn bị các điều kiện để triển khai đối với các khối lớp tiếp theo. Tiếp tục rà soát quy hoạch hệ thống trường lớp và xây dựng hoàn thiện CSVC cho hệ thống trường PTDTNT, PTDT bán trú, đảm bảo CSVC cho 100% các trường Tiểu học thực hiện dạy học 2 buổi/ngày. Đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá, đặc biệt là kỳ thi tốt nghiệp THPT; đẩy mạnh GD hướng nghiệp và định hướng phân luồng trong giáo dục phổ thông; tiếp tục đổi mới công tác quản trị, tăng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục phổ thông.

Tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện. Tăng cường chỉ đạo và quản lý chặt chẽ công tác liên kết đào tạo trình độ đại học; đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, ứng dụng CNTT, tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ công chức, viên chức; bồi dưỡng và cấp chứng chỉ theo chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; hoạt động của các tổ chức tư vấn du học.

Thách thức lớn nhất với giáo dục dân tộc hiện nay là gì, thưa TS?

[email protected]

TS Trần Thị Yên

Trưởng ban Nghiên cứu GD dân tộc,Viện KH GD Việt Nam

TS. Trần Thị Yên

Thách thức đối với Giáo dục Dân tộc có nhiều, chẳng hạn như các điều kiện để thực hiện: đổi mới giáo dục, triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới; các yếu tố về nhà trường, gia đình, cộng đồng, kinh tế - xã hội,… và sự khác nhau đối với mỗi cấp học. Trong đó thách thức lớn nhất là yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông mới và khả năng thực hiện của các cơ sở giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số.

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi. Theo đó, sự nghiệp giáo dục ở đây đã có nhiều khởi sắc, trở thành môi trường ươm mầm, đào tạo những học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS xuất sắc, tiêu biểu... Xin ông chia sẻ cụ thể hơn về những thành tựu này?

Hà Anh Thái, huyện Ba Vì, Hà Nội

Ông Lê Như Xuyên

Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

Ông Lê Như Xuyên, Phó Vụ trưởng Vụ GD Dân tộc (Bộ GD&ĐT)

 

Đúng như vậy, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi. thông qua các chủ trương, chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng DTTS, miền núi đã có những chuyển biến đáng kể: Hệ thống trường, lớp học được quan tâm đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, đảm bảo đủ điều kiện để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Tỷ lệ học sinh (HS) đến trường tăng cao, HS lưu ban, bỏ học ngày càng giảm, qua đó kết quả PCGDMN 5 tuổi, PCGDTH, PCGDTHCS ngày càng được duy trì bền vững.

Hệ thống giáo dục chuyên biệt (trường phổ thông dân tộc nội trú, trường  phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học) ngày càng phát huy hiệu quả tích cực vào công tác tạo nguồn nhân lực có chất lượng. Chế độ cử tuyển đã góp phần đáng kể trong việc đào tạo cán bộ người DTTS có trình độ ở địa phương. Các chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên và người học là người DTTS được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Qua đó đã khuyến khích công tác dạy và học, tạo sư bình đẳng trong giáo dục, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Hằng năm có hàng trăm HS, SV, TN DTTS xuất sắc tiêu biểu trong học tập, công tác, LĐSX được các cấp, ngành, địa phương tuyên dương khen thưởng. Đặc biệt, hằng năm, Ủy ban Dân tộc, Bộ GD&ĐT, TW Đoàn TNCS HCM tổ chức Lễ tuyên dương hàng trăm HS, SV, TN DTTS xuất sắc, tiêu biểu, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng các DTTS; thêm động lực cho HS, SV, TN DTTS vươn lên học tập, rèn luyện và cống hiến.

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự

Xem thêm