Bản in

Giáo dục

Thứ Ba, 20/10/2015 14:53

Ước mong giản dị của học trò vùng cao

Nữ sinh Trường PTBT THCS Lê Văn Tám (Mù Cang Chải, Yên Bái) vui chơi tại khu bán trú sau giờ họcNữ sinh Trường PTBT THCS Lê Văn Tám (Mù Cang Chải, Yên Bái) vui chơi tại khu bán trú sau giờ học

GD&TĐ - Có hiệu lực từ ngày 1/9/2013, Nghị định số 74/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 tính đến nay đã đến thời gian hết hiệu lực. 

Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh vùng cao, tạo nỗi lo về những điều kiện để các em bước chân đến trường học chữ.

Luồng gió ấm cho trường học vùng cao

Từ khi Nghị định 74 có hiệu lực, trường học vùng cao như được tiếp động lực để duy trì tốt hơn sĩ số học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. 

Đặc biệt, đối tượng học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số ở những vùng đặc biệt khó khăn có thêm điều kiện tốt để xuống núi học chữ.

Việc áp dụng Nghị định tại các trường học vùng cao gắn với mô hình bán trú đã giúp học trò ở xa trường yên tâm ở lại bán trú để học tập. Những điều kiện về học phí, chi phí học tập đã giúp gia đình các em ở những bản xa, có điều kiện khó khăn bớt đi nhiều những gánh nặng về cơm áo, sách vở, chi phí học tập.

Trao đổi với chúng tôi, bà Vàng Thị Sống (Dân tộc Mông ở Bản Lùng Ác 1, xã Vĩnh Yên, Bảo Yên, Lào Cai) cho biết: “Nhà tôi cách trường THPT tới gần 20 cây số đường đèo dốc, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn nên có chính sách của Nhà nước từ Nghị định 74, gia đình tôi hoàn toàn yên tâm cho hai đứa con xuống trường học chữ”.

Từ khi có Nghị định, việc duy trì sĩ số học sinh và nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường học vùng cao được nâng lên rõ rệt. Bởi lẽ, trước đây, do những điều kiện về kinh tế, việc đưa con em đến trường học chữ không phải là việc dễ dàng thực hiện được đối với vùng cao. 

Nay thì khác rồi, xuống núi học chữ, được ở lại khu bán trú, được hỗ trợ các điều kiện cần thiết, được ăn những bữa cơm bán trú nóng hổi, với học trò vùng cao, thế là yên tâm rồi.

Thầy giáo Cao Xuân Lâm - Hiệu trưởng Trường THPT số 2 Si Ma Cai (Lào Cai) - chia sẻ: “Khi điều kiện trở nên đầy đủ và thuận lợi thì việc tiếp nhận con chữ của con em học sẽ trở nên dễ dàng hơn”.

Còn em Lý Thị Hùa (Đồng Sơn, Tân Sơn, Phú Thọ) cũng thổ lộ: “Gia đình em rất khó khăn nhưng may mắn được nhà trường tổ chức nấu ăn ở khu bán trú, lại được hỗ trợ chi phí và các điều kiện khác nên em và gia đình yên tâm lắm, em hứa sẽ quyết tâm ở lại trường học tập thật tốt”.

Nghị định số 74 của Chính phủ trong những năm qua đã thổi một “luồng gió ấm” cho các trường học vùng cao và có sức lan tỏa lớn, rộng khắp, có tác động tích cực đối với giáo dục ở vùng cao. 

Hầu hết các nhà trường, học sinh vùng cao đón nhận những chính sách từ Nghị định với tâm trạng phấn khởi vì các em đã được tiếp thêm sức mạnh để bước chân đến trường.

Khi Nghị định hết hiệu lực

Tính đến thời điểm năm học 2015 - 2016, Nghị định số 74 sẽ hết hiệu lực thi hành. Điều đó, đồng nghĩa với việc học trò vùng cao sẽ không còn được hỗ trợ các nội dung trong công việc học tập như trước nữa. Tuy nhiên, khi Nghị định đã hết hiệu lực thì những khó khăn vốn là đặc thù của trường học vùng cao vẫn chưa hết.

Mỗi năm học mới đến, việc đầu tiên đối với các nhà trường ở vùng sâu, vùng xa là lo sĩ số học sinh, lo chỗ ăn chỗ ở, lo các điều kiện học tập của các em. 

Mọi sự lo lắng ấy đã giảm đáng kể khi Nghị định 74 vẫn còn hiệu lực. Nhưng từ năm học này, những khó khăn như nhân lên bởi học trò vùng cao sẽ phải đối diện với những khoản tiền để chi phí cho học tập như tiền học phí, tiền sách giáo khoa, tiền ăn ở…

Ở các xã vùng cao, điều kiện đi lại còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác dạy và học còn thiếu thốn, hoàn cảnh kinh tế của học sinh vùng cao chưa thể đáp ứng được những điều kiện để các em ổn định ngay từ đầu năm học.

Tại xã vùng cao Tân Tiến (Bảo Yên, Lào Cai), địa phương này vẫn thuộc vùng đặc biệt khó khăn, điều kiện đi lại, kinh tế của đồng bào Mông, Dao, Tày chưa được cải thiện nhiều. 

Hơn nữa tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn chiếm tỷ lệ cao. Mặc dù các nhà trường từ mầm non đến THCS đã cố gắng bằng mọi giải pháp để ổn định chỗ ăn ở, điều kiện học tập của học sinh nhưng khi Nghị định 74 không còn hiệu lực sẽ dẫn đến nhiều khó khăn hơn.

Thầy giáo Lục Tiến Vinh - Hiệu trưởng Trường PTCS bán trú Tân Tiến (Lào Cai) chia sẻ: “Trường có 43 học sinh trong diện được hưởng Nghị định 49 trước đây và Nghị định 74 bổ sung. 

Nhưng từ năm học 2015 - 2016, Nghị định hết hiệu lực nên số học sinh trên gặp không ít khó khăn. Mặc dù tỉnh Lào Cai đã có chương trình hỗ trợ học sinh từ đầu năm học nhưng các em diện hộ nghèo và cận nghèo lại không nằm trong diện được hưởng”.

Ở huyện vùng cao Mường Khương (Lào Cai), bước vào năm học 2015 - 2016, theo sự rà soát học sinh các cấp học trên địa bàn thì có tới trên 5.000 em học sinh trong diện khó khăn hộ nghèo và cận nghèo mong muốn tiếp tục được hỗ trợ để ổn định học tập. 

Đó là mong mỏi không chỉ của riêng những học trò nghèo ở vùng cao Mường Khương mà là điều trăn trở của nhiều địa phương hiện nay.

Mặc dù, ngày 2/10/2015, Nghị định số 86/2015/NĐ- CP của Chính phủ quy định về cơ chế thu quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021 nhưng hiệu lực thi hành lại phải chờ đến 1/12/2015.

Như thế, ngay từ đầu năm học 2015 - 2016, các nhà trường ở vùng cao không chỉ đứng trước những khó khăn mà còn thực sự lúng túng không biết sẽ thực hiện các khoản thu, các khoản chi phí như thế nào và tình trạng học sinh “chân không” đến trường, “học chay”, bỏ học giữa chừng sẽ xuất hiện.

Ước mong nối dài, liên tục những chính sách, những nghị định, chăm lo, hỗ trợ cho sự học ở vùng sâu, vùng xa bằng những nghị định thay thế là mong mỏi của học trò và nhân dân vùng cao.

Nguyễn Thế Lượng