Bản in

Giáo dục

Thứ Tư, 6/6/2018 06:57

Những giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Những giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục đại học

GD&TĐ - Trước yêu cầu đổi mới GD-ĐT để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước; thời gian qua, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã có nhiều giải pháp siết chặt quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục đại học (GD ĐH), có nhiều kết quả tích cực. 

Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại hạn chế, đòi hỏi phải có những giải pháp quyết liệt và hiệu quả hơn nữa để đổi mới GD ĐH.

GD ĐH đang chuyển mình

Cũng như đối với GD phổ thông, năng lực của đội ngũ cán bộ giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng của GD ĐH. Các thống kê mới nhất cho thấy, lực lượng giảng viên ĐH ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng.

Đến năm 2017, lực lượng giảng viên ĐH cả nước là 72.792 giảng viên, tăng 11% so với năm 2015. Trong đó, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 15,87% (năm 2015) lên 22,68% (năm 2017).

Tự chủ ĐH đang được từng bước đẩy mạnh và là một trong những trọng tâm chỉ đạo của Chính phủ cũng như của Bộ GD&ĐT thời gian qua.

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GD ĐH công lập, đã có 23 cơ sở GD ĐH thí điểm thành công, có sự phát triển, lan tỏa, giúp toàn hệ thống GD ĐH chuyển biến tích cực theo hướng: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng hoạt động, tiến tới tự chủ ĐH.

Công tác kiểm định chất lượng được tăng cường. Trong 2 năm gần đây, số lượng các cơ sở GD ĐH đạt tiêu chuẩn kiểm định quốc tế và trong nước tăng lên đáng kể.

Hoạt động nghiên cứu khoa học cũng không ngừng được đẩy mạnh. Khảo sát năm 2017 cho thấy, giai đoạn 2011 - 2015, tổng sản phẩm khoa học và công nghệ khối các trường ĐH chiếm hơn 2/3 tổng sản phẩm khoa học và công nghệ cả nước; trong 3 năm 2013 - 2015, các cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ có 51.904 bài báo công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và 11.971 bài báo công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế; chỉ tính riêng các trường ĐH trực thuộc Bộ GD&ĐT đã có 383 nhóm nghiên cứu hoạt động ngày càng hiệu quả và có sức lan tỏa trong toàn hệ thống.

Những kết quả đạt được nói trên đã góp phần nâng cao vị thế các trường ĐH Việt Nam trong bảng xếp hạng châu Á những năm gần đây. Số trường ĐH Việt Nam đã có tên trong bảng xếp hạng tốp 400 trường của khu vực châu Á ngày càng tăng. Trước năm 2016, chỉ có 2 - 3 trường ĐH của Việt Nam được vào danh sách các trường ĐH hàng đầu châu Á (do Tổ chức xếp hạng Quacquarelli Symonds – QS - đánh giá).

Đến năm học 2017 - 2018, đã có thêm cơ sở GD ĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng quốc tế khác nhau với thứ hạng cũng dần được cải thiện. Bên cạnh đó, các cơ sở GD ĐH đã nỗ lực vượt bậc để được xếp hạng quốc tế, cho thấy có chuyển biến tích cực về chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường ĐH của Việt Nam.

Những giải pháp thiết thực để đổi mới GD ĐH

Như đã nói, dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua, nhưng thực tế cũng cho thấy, GD ĐH vẫn còn một số bất cập, hạn chế cần khắc phục, đòi hỏi những đổi mới quyết liệt và hiệu quả hơn nữa để nâng cao chất lượng đào tạo.

Với tinh thần nhìn thẳng vào các tồn tại hạn chế, phát huy các thành quả đạt được cùng với việc kế thừa, tiếp cận học hỏi những mô hình tiên tiến trên thế giới, Bộ GD&ĐT đã đề ra những giải pháp để nâng cao chất lượng GD ĐH trong giai đoạn tới.

Giải pháp đầu tiên được Bộ GD&ĐT hướng tới là hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển GD ĐH. Xuất phát từ yêu cầu đó, Bộ GD&ĐT đã báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD và Luật GD ĐH; trình Chính phủ ban hành Nghị định tự chủ đối với các cơ sở GD ĐH công lập… nhằm mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả tự chủ ĐH.

Cùng với đó, đổi mới quản trị, quản lý đào tạo theo hướng tiệm cận chuẩn quốc tế; đổi mới quản lý Nhà nước theo hướng quy định hệ thống chuẩn chất lượng để các trường chủ động, sáng tạo trong thực hiện; quy định về trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng và chất lượng thực tế; tăng cường kiểm định chất lượng, thanh tra, kiểm tra và hoàn thiện hệ thống chế tài, xử lý vi phạm.

Giải pháp thứ 2: Cùng với việc xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mới, Bộ GD&ĐT triển khai các hoạt động nhằm tăng cường quản lý quy hoạch mạng lưới, gắn kết đào tạo với nhu cầu xã hội và làm cơ sở cho việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh như:

Định kỳ công khai minh bạch kết quả kiểm định chất lượng trên Cổng thông tin của Bộ GD&ĐT; rà soát các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh và yêu cầu các cơ sở GD ĐH và đào tạo giáo viên rà soát, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng; tỷ lệ có việc làm của SV tốt nghiệp, các sản phẩm khoa học công nghệ của trường.

Đối với tuyển sinh nhóm ngành/ngành đào tạo giáo viên dựa trên nhu cầu sử dụng giáo viên của các địa phương và điều kiện đảm bảo chất lượng của từng trường; đồng thời Bộ GD&ĐT quy định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào đối với các ngành tuyển sinh đào tạo giáo viên ở các trình độ.

Giải pháp thứ 3: Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch mạng lưới các cơ sở GD ĐH và đào tạo giáo viên theo các quy chuẩn chất lượng, phù hợp với Nghị quyết 19-NQ/TW và Luật Quy hoạch; xây dựng Chiến lược tổng thể phát triển GD ĐH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2035; Kế hoạch và giải pháp tăng cường số lượng các trường ĐH Việt Nam có mặt trong các bảng xếp hạng quốc tế.

Giải pháp thứ 4: Đẩy mạnh hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong và bên ngoài; đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng GD, tập trung vào kiểm định chương trình đào tạo.

Giải pháp thứ 5: Tăng cường đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính GD ĐH, các trường tự xác định mức học phí tương xứng với chất lượng đào tạo; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở GD ĐH, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; phát triển một số ngành, vùng đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; có cơ chế phân bổ nguồn lực cho GD ĐH theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả…

Giải pháp thứ 6: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các trường thực hiện:

Đầu tư các yếu tố đảm bảo chất lượng, trong đó tập trung phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ.

Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thị trường, phát triển tư duy sáng tạo của học viên; quản lý chất lượng tổng thể bao gồm quản lý các điều kiện đầu vào, quản lý quá trình đào tạo và quản lý chất lượng đầu ra phù hợp với khung trình độ quốc gia; triển khai các giải pháp nâng cao khả năng có việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp.

Nghiên cứu, đào tạo các ngành nghề và phương thức đào tạo đáp ứng mô hình tăng trưởng của nền kinh tế và yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; mở rộng và tăng dần quy mô các chương trình đào tạo chất lượng cao, các chương trình đào tạo liên kết quốc tế với các trường nước ngoài uy tín; đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ các trình độ đào tạo, bảo đảm năng lực ngoại ngữ và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ, giáo viên, giảng viên dạy các môn khoa học, môn chuyên ngành bằng ngoại ngữ cho các trình độ đào tạo.

Giải pháp thứ 7: Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xây dựng lại hệ thống chế tài xử phạt nặng hơn đối với vi phạm chất lượng GD ĐH và xử lý nghiêm đối với vi phạm; công bố công khai kết quả kiểm định, kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm để rút kinh nghiệm và phòng ngừa chung.