Bản in

Giáo dục

Thứ Năm, 11/4/2019 13:49

Hiểu đúng, đủ về thăng hạng giáo viên: Bài 1: Bắt buộc?

Thăng hạng giáo viên là quá trình chuẩn hóa nghề nghiệp theo Luật viên chức. Ảnh: Bắc ViệtThăng hạng giáo viên là quá trình chuẩn hóa nghề nghiệp theo Luật viên chức. Ảnh: Bắc Việt

GD&TĐ - 5 năm trở lại đây, vấn đề thăng hạng chức danh nghề nghiệp được đông đảo giáo viên (GV), cán bộ QLGD và cả xã hội quan tâm. Bởi đây là một nội dung mới khi thực hiện Luật Viên chức, tác động đến nhà giáo ở tất cả cấp học. Nhưng hiểu cho đúng, cho đủ về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp GV, cho đến thời điểm này, vẫn là câu chuyện cần phải bàn. 

Để giúp quý độc giả hiểu hơn về nội dung này, Báo GD&TĐ có loạt bài chuyên sâu về các nội dung liên quan, kính mời quý độc giả đón xem.

Khi giảng dạy các chuyên đề trong chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập, câu mà tôi luôn hỏi GV là: Việc đi thi thăng hạng với các thầy cô có bắt buộc hay không?

Ngày tốt nghiệp Ảnh: Minh họa

Hiểu mù mờ

Một số ít GV trả lời chắc chắn là không bắt buộc, phần lớn GV trả lời là không rõ lắm vì hầu như không biết đích xác, chỉ nghe người này, người kia nói rằng có thấy cơ quan quản lý bắt đi thi thì đi. Trong khi một số ít khẳng định rất chắc chắn việc thăng hạng là bắt buộc, không đi không được.

Câu trả lời của GV luôn làm tôi suy nghĩ. Vì hình như, GV ít quan tâm tới luật, cho nên ngay cả những quy định sát sườn, các thầy cô cũng không biết hoặc biết một cách rất mù mờ. Cho nên, có lẽ cần phải hiểu cho đúng về thăng hạng và bản chất của thăng hạng.

Trước năm 2010, khi chưa có Luật Viên chức GV được xếp theo ngạch, gọi là các ngạch GV mầm non, GV tiểu học, GV THCS và GV THPT. Các ngạch GV có mã số bắt đầu bằng con số 15. Ở mỗi cấp học, lại có các thứ bậc khác nhau thể hiện cấp độ của ngạch, bao gồm GV, GV chính và GV cao cấp.

Năm 2010, Luật Viên chức được ban hành và đến năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, trong đó có các quy định cụ thể về chức danh nghề nghiệp viên chức gắn với vị trí việc làm. Sau khi Luật Viên chức và Nghị định số 29/2012/NĐ-CP có hiệu lực, năm 2015, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành các Thông tư liên tịch quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp GV mầm non, phổ thông công lập (Thông tư liên tịch số 20/2012/TTLT-BGDĐT-BNV, số 21/2012/TTLT-BGDĐT-BNV, số 22/2012/TTLT-BGDĐT-BNV, số 23/2012/TTLT-BGDĐT-BNV).

Cần lưu ý rằng, việc ban hành các Thông tư liên tịch nêu trên là một bước chuẩn hóa đội ngũ GV mầm non, phổ thông công lập theo quy định của Luật Viên chức và các quy định của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

Cô giáo tương lai

Thăng hạng là không bắt buộc

Quay trở lại với câu hỏi: Thăng hạng bắt buộc hay không? Câu trả lời là thăng hạng không bắt buộc.

Theo quy định GV các cấp học được xếp vào 3 hạng (I, II, III đối với GV THCS, THPT; II, III, IV đối với GV mầm non, tiểu học). Trong đó, sau khi được xếp vào hạng thấp nhất, GV sẽ có quá trình tích lũy các điều kiện (về trình độ đào tạo, bồi dưỡng và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ) để đủ điều kiện tham dự thi hoặc xét thăng hạng lên hạng cao hơn liền kề. Việc thăng hạng bắt buộc phải được thực hiện thông qua một kỳ thi hoặc xét do cơ quan có thẩm quyền tổ chức quyết định.

Sau gần 5 năm triển khai thực hiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp GV, vấn đề lớn nhất còn tồn tại ở các địa phương vẫn là vấn đề nhận thức về các quy định: nhiều GV không hiểu hoặc hiểu không đúng về bản chất của tiêu chuẩn chức danh và các quy định liên quan. Cho nên, không lạ khi nhiều GV trên các diễn đàn công khai lớn tiếng phê phán Bộ GD&ĐT và các cơ quan quản lý “đẻ” ra nhiều quy định làm khó GV và tạo cơ sở để cho các đơn vị đào tạo kiếm tiền.

Nếu một GV từ lúc vào nghề cho đến khi nhận quyết định nghỉ chế độ không tham gia thăng hạng và vẫn chỉ ở hạng thấp nhất cũng không sao, miễn là GV đó đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn của hạng hiện giữ và hoàn thành các nhiệm vụ được giao, không vi phạm các quy định của ngành, thì họ vẫn được hưởng lương và các phụ cấp, trợ cấp (nếu có) theo quy định.

Còn trong trường hợp, GV có nhu cầu thăng lên hạng cao hơn thì bắt buộc phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn của hạng mong muốn được bổ nhiệm vào. Để được thăng hạng, cá nhân GV phải có kế hoạch và lộ trình cho việc tích lũy các điều kiện, minh chứng, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị hồ sơ cần thiết cho kỳ thi hoặc xét thăng hạng do cấp có thẩm quyền quy định.

Điều này, nếu hiểu đúng bản chất thì việc thăng hạng vốn là một chính sách rất minh bạch và sòng phẳng. Bởi, việc thăng hạng không đơn thuần là giải quyết chế độ chính sách mặc dù trong thăng hạng có thể có tăng lương (tăng nhiều hay ít tùy thời điểm, nếu GV thăng hạng càng sớm thì càng có lợi về lương và ngược lại). Thăng hạng thể hiện sự phát triển chuyên môn, nghiệp vụ vị trí và đẳng cấp của GV trong phát triển nghề nghiệp.

Bởi vì, trong thiết kế về kết cấu hạng chức danh nghề nghiệp GV, hạng càng cao thì ngoài lợi ích được hưởng, GV sẽ phải cống hiến nhiều hơn, làm những việc khó hơn mà người ở hạng thấp không làm được hoặc không có cơ hội để làm. Như vậy, nếu GV muốn được hưởng lợi ích nhiều hơn về lương và khẳng định vị thế nghề nghiệp, họ bắt buộc phải nỗ lực cố gắng, tích lũy các minh chứng để đủ điều kiện thăng hạng, còn nếu không, họ chỉ cần đáp ứng đủ các điều, tiêu chuẩn của hạng đang giữ.

Nguyễn Hương ( Cục NG&CBQL)

Trần quyền (13/05/2019 11:39:26 AM)

Triển khai là tốt nhưng những nơi thực hiện có đúng như vậy không hay chỉ đóng tiền ai học cũng đc, không học cũng được. Có mặt thi là được. Một giáo viên hay không thể hiện qua chức danh hay hạng mà qua việc dạy học của họ và chuyên môn. Không thấy tổ chức nâng cao về chuyên môn và chỉ lo bằng cấp và giấy tờ. Những tờ giấy vô nghĩa mà lại có giá trị. Còn chuyên môn là cái cốt lỗi thì không được công nhận. Hãy xem lại.

Tú uyên (16/04/2019 13:14:42 PM)

Lập luận của những người biên soạn các quy định về xếp lương là xếp lương theo công việc chứ không theo trình độ, theo đó do quy định trình độ chuẩn của gv mn và gv th (theo các nghị định này) là trung cấp. Nhưng việc quy định trình độ chuẩn như thế đã thực hiện từ hơn 40 năm trước. Ngày nay ở VN hầu như không có đơn vị nào đào tạo gv mn và gv tiểu học trình độ trung cấp. Hơn nữa nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã đưa ra định hướng là nâng trình độ chuẩn cua gv th lên đại học. Xem ra ngành y tế đã nhạy bén hơn ngành gdđt là đã nhanh chóng quy định trình độ chuẩn của chưc danh y tá la cao đẳng, qua đó xây dựng bảng lương của y tá là từ cao đẳng trở lên. Theo tôi liên bộ gdđt và Bộ nội vụ nhanh chóng trình CP sửa đổi quy định về trình độ chuẩn của gv mnlaf cao đẳng và gv các cấp tiểu học, THCS và THPT là đại học. Các nội dung này cũng nên đưa vào Luật GD mới để tháo gỡ nút nghẽn hiện nay trong tuyển sinh và đào tạo gv mn và phổ thông.

Đoàn Anh Trà (15/04/2019 10:04:02 AM)

Bạn cho mình hỏi: mình đang là gv tiểu học hạng 2. Địa phương mình đang tổ chức học giữ hạng. Học k khó vì bao đậu nhưng tốn chi phí và thời gian. Nếu mình không học thì có bị rớt hạng không. Mình cũng có hỏi nhiều người ở các cấp quản lí nhưng thông tin k thống nhất. Bạn cho mình câu trả lời nhé. Cảm ơn bạn.

Nguyễn Ngọc Ân (15/04/2019 10:03:13 AM)

Một bất cập lớn trong các quy định về chức danh nghề nghiệp là việc xếp lương cho gv mầm non và tiểu học khi tuyển dụng : xếp lương bậc 1 của hạng IV CDNN , tức là bậc lương trung cấp, dù gv đã tốt nghiệp trình độ từ cap đẳng đến thạc sỹ. Chính vì quy đijnh phi lý này mà những năm gần đây các trường đào tạo gv mn và gn tiểu học không tuyển sinh được dù hạ điểm tuyển rất thấp, dẫn đến việc thiếu gv trầm trọng ở 2 cấp học này. Việc quy định trình độ chuẩn của gv mn và gv th là trung cấp cũng đã làm triệt tiêu những nỗ lực trong nhiều năm của ngành gdđt các địa phương trong nhiều năm trước khi các quy định này ra đời.