Bản in

Giáo dục

Thứ Tư, 24/10/2018 20:32

Giáo dục đóng góp lớn vào tiến bộ đổi mới sáng tạo của Việt Nam

Giáo dục đóng góp lớn vào tiến bộ đổi mới sáng tạo của Việt Nam

GD&TĐ - Chỉ số đổi mới sáng tạo (ĐMST) của Việt Nam trên bảng xếp hạng toàn cầu theo báo cáo của WIPO (Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới) liên tục thăng hạng trong những năm gần đây.

Cụ thể Việt Nam xếp thứ 71 năm 2014; 59 năm 2016; 47 năm 2017 và 45 năm 2018. Đây là thứ hạng cao nhất mà Việt Nam đạt được từ trước tới nay và có thể nói là cột mốc đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc về các hoạt động ĐMST quốc gia.

Cột mốc đánh dấu tăng trưởng vượt bậc về đổi mới sáng tạo quốc gia

Cũng theo theo báo cáo của WIPO, nếu so sánh với thứ hạng GDP thì xếp hạng ĐMST quốc gia của Việt Nam có sự vượt trội hơn hẳn.

Với 37,94/100 điểm, Việt Nam đứng thứ 45/126 quốc gia về chỉ số đổi mới sáng tạo, tỷ lệ ĐMST hiệu quả đạt 0,8 (xếp hạng 16). Riêng trong nhóm thu nhập trung bình thấp, chỉ số ĐMST của Việt Nam xếp thứ 2, trên Moldova, Ấn Độ và Mông Cổ

Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innnovation Index, hay còn gọi là GII) là bộ công cụ xếp hạng năng lực ĐMST các quốc gia và nền kinh tế với việc tính toán 4 chỉ số chính: chỉ số đầu vào ĐMST, chỉ số đầu ra ĐMST, tỉ lệ ĐMST hiệu quả và điểm GII tổng thể.

Chỉ số ĐMST toàn cầu – GII được đánh giá là toàn diện và chính xác hơn các thước đo truyền thống (trước đây đo bằng các chỉ số: chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, số lượng các bài báo và nghiên cứu được công bố hay số bằng sáng chế được đăng ký).

Đặc biệt Việt Nam xếp thứ 2 trong nhóm 30 quốc gia có thu nhập trung bình thấp được đánh giá. Báo cáo GII 2018 cũng cho thấy Việt Nam nằm trong top 5 của nhóm thu nhập trung bình thấp trong tất cả các chỉ số chính về ĐMST.

Ông Edward Harris, Bộ phận Tin tức và Truyền thông, WIPO nhận xét: “Trong số các nền kinh tế thu nhập trung bình thấp, 4 quốc gia gồm: Ukraina, Cộng hòa Moldova và Việt Nam thể hiện xuất sắc hơn so với dự kiến khi xem xét dựa trên các chỉ số đầu vào. Chẳng hạn Việt Nam nổi bật trong tăng trưởng năng suất lao động, và là quốc gia dẫn đầu trong nhóm về xuất khẩu công nghệ cao.”

Việt Nam cũng có lợi thế về xuất khẩu phát triển ứng dụng di động.

Xếp hạng trong nhóm*

Chỉ số ĐMST toàn cầu

Chỉ số đầu vào ĐMST

Chỉ số đầu ra ĐMST

Tỉ lệ ĐMST hiệu quả

1

Ukraina (43)

Gruzia (53)

Ukraina (35)

Ukraina (5)

2

Việt Nam (45)

Ấn Độ (63)

Moldova (37)

Moldova (6)

3

Moldova (48)

Việt Nam (65)

Việt Nam (41)

Armenia (15)

4

Mông Cổ (53)

Mông Cổ (66)

Mông Cổ (47)

Việt Nam (16)

5

Ấn Độ (57)

Ukraina (75)

Armenia (50)

Mông Cổ (30)

(Top 5 quốc gia ĐMST trong nhóm thu nhập trung bình thấp (trên 30 quốc gia. Nguồn: Báo cáo Global Innovation Index 2018, trang 29: https://www.globalinnovationindex.org/gii-2018-report#)

Xét theo khu vực địa lý, Việt Nam xếp thứ 10 trong khu vực Châu Đại Dương, Đông Á và Đông Nam Á. Khu vực này gồm các quốc gia tiên tiến như Singapore (thứ 5 về ĐMST toàn cầu), Hàn Quốc (thứ 12), Nhật Bản (thứ 13)…

Việt Nam xếp thứ 18/126 quốc gia về giáo dục

Báo cáo GII 2018 chỉ ra một yếu tố quan trọng khiến Việt Nam đạt được thứ hạng cao là sự đầu tư cho giáo dục trong những năm gần đây. Cụ thể, Việt Nam đã đứng đầu 2 năm liền (2017 và 2018) về chi tiêu cho giáo dục trong số các quốc gia ASEAN. Đây rõ ràng là đóng góp lớn của ngành Giáo dục đối với tăng trưởng về ĐMST quốc gia khi chi tiêu cho giáo dục tính theo GDP là 5,7% - xếp thứ 29/126.

Một thông tin đáng mừng khác, đó là Việt Nam xếp thứ 18/126 quốc gia về giáo dục cũng trong Báo cáo GII 2018. Đây có thể coi là thành công bước đầu rất đáng kể của toàn ngành giáo dục sau khi Nghị quyết 29 được ban hành và triển khai rộng rãi.

Sự đầu tư cho giáo dục không chỉ thể hiện ở việc đẩy mạnh chi tiêu chung, mà đặc biệt thể hiện qua việc đẩy mạnh hoạt động đào tạo nguồn nhân lực gắn với nghiên cứu khoa học (NCKH). Ngay từ 2016, chủ trương này được Bộ GD&ĐT quan tâm chỉ đạo triển khai ở tất cả các trường ĐH, nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục ĐH của Nghị quyết 29-NQ/TW.

Năm học

2012-2013

2013-2014

2014-2015

2015-2016

2016-2017 (cả đại học và CĐSP)

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

Tiến sĩ

8.869

14,4

9.653

14,8

10.424

15,9

13.598

19,5

16.631

21,8

Thạc sĩ

28.987

47,0

34.152

52,4

37.090

56,5

40.426

58,1

45.314

59,4

Trình độ khác

23.818

38,6

21.401

32,8

18.150

27,6

15.567

22,4

14.205

18,6

Tổng số giảng viên

61.674

 

65.206

Tăng 5,7

65.664

Tăng

0,7

69.591

Tăng 6,0

76.285

Tăng

9,6

(Số lượng và trình độ giảng viên từ năm học 2012-2013 đến năm học 2016-2017. Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả)

Sau hơn 4 năm thực hiện yêu cầu “nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục” của Nghị quyết 29, số lượng và chất lượng các nhà khoa học đều tăng. Điều này thể hiện qua số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ tăng dần qua các năm.

Cụ thể, từ 2012 tới 2017, số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 14,4% lên  21,8%, giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng từ 47% lên 59,4% qua các năm. Đồng thời giảng viên có trình độ khác giảm dần cả về con số tuyệt đối lẫn tỉ lệ % (giảm từ 38,6% xuống còn 18,6%).

Tỷ lệ nhân lực NCKH trong các trường đại học/học viện của ngành giáo dục so với các khu vực hoạt động khác trong cả nước năm 2016. Nguồn: Báo cáo Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2016.

Ngành Giáo dục đang sở hữu một lực lượng dồi dào các nhà khoa học trình độ cao hơn hẳn so với các ngành khác trong cả nước (chiếm hơn 50%) với nguồn nhân lực chất lượng cao (PGS, GS, TS). Đặc biệt, hơn hẳn nguồn nhân lực chất lượng cao tại các viện nghiên cứu và các tổ chức KHCN.

Các nhà khoa học trong ngành Giáo dục đã có nhiều đóng góp cho phát triển giáo dục, kinh tế - xã hội, đạt được nhiều giải thưởng cao quý quốc tế và quốc gia như:

TSKH. Trần Đình Phong (Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội); PGS.TS. Phạm Văn Hùng (Trường ĐH Quốc tế, ĐHQG TP. HCM); TS. Đỗ Quốc Tuấn, (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội) giải thưởng Tạ Quang Bửu.

GS Phan Thanh Sơn (ĐH Bách khoa - ĐHQG TP.HCM) và PGS Nguyễn Sum (ĐH Quy Nhơn) có tên trong danh sách 100 nhà khoa học châu Á năm 2018.

TS Nguyễn Thị Hiệp (giảng viên Trường ĐH Quốc tế, ĐHQG TPHồ Chí Minh) đã xuất sắc giành giải nhất cuộc thi Giải thưởng Khoa học ASEAN - Hoa Kỳ…

Thành tựu hoạt động KHCN trong các cơ sở GDĐH không ngừng được cải thiện từ sau Nghị quyết 29 NQ/TW

Một trong số các mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục nói chung và giáo dục ĐH nói riêng là hoạt động NCKH. Hoạt động NCKH được thể hiện thông qua: số lượng NCKH của các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH), qua các thông bố quốc tế và khả năng ứng dụng thực tiễn.

Trước đó, năm 2010, theo thống kê của Bộ GD&ĐT, trong 56.000 cán bộ giảng dạy ở các trường ĐH, CĐ chỉ có khoảng 1.100 giảng viên (chiếm 3%) tham gia NCKH và rất ít giảng viên trẻ tham gia nghiên cứu.

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 29, Theo Báo cáo Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2016, khu vực các trường ĐH đóng góp hơn 50% tổng số nhân lực khoa học công nghệ (KHCN) trong cả nước.

Tính đến hết năm 2017, trong các cơ sở GDĐH đã có 945 nhóm nghiên cứu. Đây là những kết quả rất tích cực có tác động nâng cao năng lực nghiên cứu giảng dạy của các trường ĐH, thúc đẩy GDĐH Việt Nam hội nhập với GDĐH quốc tế; đồng thời qua đó góp phần đưa khoa học công nghệ vào cuộc sống thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học của HSSV và giảng viên trẻ.

Nhân lực KHCN của các cơ sở GDĐH trong tương quan toàn ngành. Nguồn: Báo cáo Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2016.

Số lượng các công bố, đặc biệt là công bố quốc tế và ảnh hưởng khoa học thể hiện qua mức độ được trích dẫn tăng mạnh, góp phần cải thiện vị thế của các cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam trong bảng xếp hạng các trường ĐH thế giới.

Theo GS. TSKH Nguyễn Đình Đức (ĐH Quốc gia HN), năm 2013, trước khi có Nghị quyết 29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2.309 bài. Sau Nghị quyết 29, tính từ 2017 đến tháng 6/2018, chỉ tính riêng công bố quốc tế của 30 trường ĐH hàng đầu Việt Nam, đã đạt 10.515 bài, bằng tất cả công bố trên toàn quốc giai đoạn 5 năm 2011-2015.

Năm 2018 có 02 trường ĐH Việt Nam vào top 1000 trường ĐH trên thế giới theo xếp loại của QS. Tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) (Anh) vừa công bố kết quả bảng xếp hạng QS ASIA 2018-2019 cho 505 trường ĐH hàng đầu Châu Á.

Theo thống kê của QS, với tổng số 505 cơ sở giáo dục ĐH tham gia xếp hạng, cùng vị trí xếp hạng mới, Trường ĐHBK Hà Nội thuộc tốp 52% các trường trong danh sách.

Năm nay, theo công bố, ĐHQG Hà Nội đứng thứ 1 Việt Nam, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh (thứ 2), Trường ĐHBK Hà Nội ở vị trí thứ 3 (ở vị trí 261-270, vươn lên 30 bậc so với năm 2018), kế đến là Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Cần Thơ, ĐH Đà Nẵng và ĐH Huế.

Tiềm lực KHCN của các trường ĐH cũng được thể hiện thông qua số lượng và chất lượng, cũng như loại hình các tổ chức KHCN. Đi cùng với các tổ chức KHCN là hệ thống các trang thiết bị cho hoạt động thực hành, thực nghiệm, nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm. Mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ trong các cơ sở GDĐH được hình thành phong phú và đa dạng về loại hình.

Giai đoạn 2011-2016, Bộ GD&ĐT đầu tư gần 292 tỉ đồng cho 46 dự án tăng cường năng lực nghiên cứu, trung bình mỗi dự án được đầu tư xấp xỉ 6,4 tỉ đồng.

Các dự án này tập trung tăng cường trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm, nhằm có khả năng tạo sản phẩm ứng dụng, phục vụ phát triển kinh tế xã hội như: Phòng công nghệ vi chế tạo MEMS, Phòng thí nghiệm chẩn đoán bệnh động vật, Phòng thí nghiệm và kiểm định công trình, Phòng thí nghiệm chế phẩm sinh học, Phòng thí nghiệm kỹ thuật nền móng công trình, Phòng thí nghiệm kỹ thuật in,...

Theo thống kê từ gần 150 trường ĐH trong toàn hệ thống, số lượng các tổ chức KHCN (Phòng thí nghiệm – PTN; Trung tâm nghiên cứu – TTNC; Viện nghiên cứu – VNC, Công ty KHCN – Cty KHCN;  Xưởng sản xuất – XSX...) đã đăng ký hoạt động và chưa đăng ký hoạt động của các trường ĐH trong toàn ngành Giáo dục là tương đối lớn, với tổng số lên đến 1.413 tổ chức/142 trường ĐH được điều tra.

Tổ chức KHCN/năm

2011

2012

2013

2014

2015

2016

PTN

439

520

695

766

961

1133

TTNC

49

59

64

78

91

106

VNC

15

15

17

20

53

73

Cty KHCN

2

3

3

3

3

3

XSX

46

50

65

84

87

98

Tổng

551

647

844

951

1195

1413

(Thống kê các tổ chức KHCN trong hệ thống các trường ĐH năm 2017. Nguồn: số liệu điều tra từ 142 trường ĐH trong cả nước năm 2017).

Hệ thống phòng thí nghiệm, đặc biệt là phòng thí nghiệm công nghệ cao của các trường ĐH kỹ thuật đã và đang được đầu tư mới bằng các nguồn vốn trong nước và ngoài nước.

Quá trình chuyển giao KHCN của các nhóm nghiên cứu đã thu hút đầu tư của các doanh nghiệp cho phát triển các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu trong các trường ĐH, đặc biệt đối với các trường ĐH thuộc khối kỹ thuật như Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Trường ĐH Bách khoa Đà Nẵng…

Như vậy, có thể thấy, cùng với việc thăng hạng trên các bảng xếp hạng trường ĐH của quốc tế, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên, tốc độ tăng cường nghiên cứu khoa học gắn với đào tạo là những chỉ số minh chứng về chất lượng, vị thế của GDĐH Việt Nam đã có những bước chuyển mình rất đáng kể.

 

Hội nhập sâu hơn với GDĐH thế giới, tăng cường chất lượng, năng lực đào tạo gắn với KHCN để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế, GDĐH đang ngày càng khẳng định vị thế vai trò của mình và đã được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận đánh giá, trong đó có WIPO, QS và World Bank.

PV