Bản in

Giáo dục

Thứ Năm, 4/1/2018 11:24

Dạy tư duy phản biện ở trường phổ thông - việc khó cần làm!

Học sinh ngày nay có thể dễ dàng tiếp cận thông tin từ sách vở, máy tính hay điện thoại thông minh giúp tăng cường tư duy phản biệnHọc sinh ngày nay có thể dễ dàng tiếp cận thông tin từ sách vở, máy tính hay điện thoại thông minh giúp tăng cường tư duy phản biện

GD&TĐ - Trong quá trình đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm thì việc xây dựng tư duy phản biện cho học sinh phổ thông là điều rất cần thiết. Dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng các thầy cô và chuyên gia giáo dục vẫn đang nỗ lực không ngừng để trang bị kỹ năng quan trọng này cho các em.

Kỹ năng quan trọng trong thời đại bùng nổ thông tin

Tư duy phản biện (Critical Thinking), hiểu một cách đơn giản nhất, đó là khả năng suy nghĩ và tư duy đa chiều, phản biện lại vấn đề, xem xét mọi khía cạnh để tìm ra chân lý chứ không dễ dàng chấp nhận mọi ý kiến ngay từ ban đầu.

Tư duy phản biện (TDPB) giúp con người vượt ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen có sẵn; hướng đến cái mới, thoát khỏi những rào cản của định kiến, đưa ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọn phương án tối ưu với những lập luận có cơ sở vững chắc đối với một vấn đề nào đó.

Việc xây dựng TDPB cho học sinh đang được nhiều quốc gia xem như tiêu chuẩn của nền giáo dục hiện đại, là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn thể xã hội.

Đơn cử như tại Mỹ, các giáo viên thường cho học sinh sử dụng tư duy phản biện bằng cách thử thách khả năng đặt câu hỏi hay, suy nghĩ sâu sắc và bảo vệ quan điểm của các em về các vấn đề được dạy.

Các bài học được các em chuẩn bị trước tại nhà và mang đến lớp thảo luận, tranh biện sôi nổi. Người thầy sẽ đóng vai trò định hướng, giải thích và đúc kết lại chân lý vào cuối buổi học.

 PGS-TS Tâm lý Huỳnh Văn Sơn, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM cho rằng: “Trong thời đại ngày nay khi khối kiến thức càng lúc càng trở nên khổng lồ, con người có nhiều cơ hội để tiếp cận tri thức thì việc biết cân nhắc, suy xét, lựa chọn, lọc để biết, hiểu và ứng dụng trở nên rất quan trọng. Đó chính là tư duy phản biện và sức mạnh của nó trong thực tiễn…”.

PGS-TS Huỳnh Văn Sơn hướng dẫn về Phương pháp dạy học tích cực

Nhiều khó khăn trong việc dạy học sinh TDPB

Hiện tại ở Việt Nam, để giáo dục TDPB một cách hoàn chỉnh cho học sinh phổ thông là chuyện không hề đơn giản. Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục, rào cản đầu tiên là vấn đề văn hóa.

Việc dạy học ở nước ta trong nhiều năm qua chịu ảnh hưởng rất lớn của Nho giáo, “một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, chưa thật sự chú trọng đến tính tích cực trong hoạt động giáo dục của học sinh.

Điều đó góp phần làm học sinh trở nên thụ động, lười biếng trong suy nghĩ, tìm kiếm dẫn chứng, cơ sở để phản biện kiến thức của giáo viên truyền thụ.

Cô Lại Thị Phương Ánh, giáo viên môn sinh vật ở Trường THPT Lê Hồng Phong (TPHCM) nhận định: “Việc dạy TDPB cho học sinh cấp 3 là rất khó, bởi lẽ các em đã quen với lối tư duy một chiều, thụ động từ các lớp cấp dưới, mất dần sự tò mò và thói quen đặt câu hỏi.

Ở mức độ này, giáo viên chỉ có thể điều chỉnh, định hướng và khơi lại niềm vui học hỏi cho các em chứ không thể xây dựng kỹ năng TDPB cho học sinh một cách hoàn chỉnh”.

Hơn nữa, không ít giáo viên cũng tỏ ra lúng túng với việc đào tạo TDPB bởi lẽ chính họ cũng là sản phẩm của giáo dục truyền thống. Thầy Nguyễn Duy Khang, công tác tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long cho rằng phần đông người dạy học hiện nay còn hiểu chưa đúng về giáo dục TDPB.

Không nhiều thầy cô giáo có đủ kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng để giải đáp mọi thắc mắc của các em. Ngoài ra, thời lượng lên lớp hạn chế cũng là một nguyên nhân khiến các giáo viên ngại sử dụng phương pháp giáo dục phản biện cho học sinh.

Tất cả khiến trình độ TDPB của học sinh ở Việt Nam hiện nay là còn khá hạn chế. Về điểm này, PGS-TS Huỳnh Văn Sơn nhận xét: “Các em cũng có TDPB song khả năng vận dụng kỹ năng này chưa cao, chỉ ở mức trung bình.

Nhiều em có thể phát hiện vấn đề một cách chủ động nhưng vẫn còn bỏ sót một số trường hợp có vấn đề cần phản biện. Học sinh biết tập hợp các bằng chứng, sử dụng các lý lẽ để lập luận một cách hợp lý nhưng chưa triệt để.

Các em cũng có kỹ năng phán đoán nhưng các kết luận thường thiếu cơ sở, chưa chính xác, do các em vẫn giữ thói quen đồng ý nhanh, chấp nhận dễ. Có những trường hợp cảm thấy không thuyết phục nhưng vẫn không dám biểu đạt ý kiến, dễ bị lôi kéo bởi một tuyên bố hay một câu nói xuất phát từ người thầy…”

Thầy Lê Bá Bát Trân, giáo viên dạy sử tại Trường THPT Hòa Bình, TPHCM ghi nhận: Học sinh phổ thông hiện tại vẫn có TDPB nhưng không hoàn chỉnh. Có trường hợp các em phản biện vượt khung hoặc phản biện máy móc, không dùng tư duy để phân tích đúng sai mà sa vào phản đối, chê trách và phủ nhận mọi vấn đề được đưa ra.

Nhiều sáng kiến hay nhưng vẫn cần một sự thay đổi đồng bộ và toàn diện

Trước tình trạng này, nhiều giáo viên đã chú ý chỉnh sửa, định hướng lại TDPB cho các em thông qua việc đổi mới và sáng tạo trong cách dạy. Đơn cử như ở môn lịch sử, thầy Lê Bá Bát Trân luôn chủ động cho các em tiếp cận thêm các nguồn thông tin, kiến thức khác ngoài sách giáo khoa để tham gia bàn luận về bài học.

Ví dụ như thay vì kiểm tra theo kiểu học thuộc lòng, thầy cho các em tìm hiểu về lịch sử và văn hóa của các nước trong khu vực rồi liên hệ với nước ta để rút ra kết luận về các giai đoạn lịch sử.

Giao việc tìm hiểu và kiểm chứng các thông tin, kiến thức lại cho các em; đến cuối buổi, thầy mới đánh giá, sửa chữa và hệ thống lại bài học cho các em. Về phần mình, thầy cũng liên tục nâng cấp, bổ sung thêm kiến thức để có thể giải đáp tốt các thắc mắc, phản biện mà các em đưa ra.

Cô Nguyễn Ngọc Vân Anh, giáo viên môn hóa của Trường THPT Long Thới, TPHCM cùng cậu học trò Phạm Hoàng Ân có sáng kiến “Áp dụng hình thức debate (tranh biện) quốc tế vào hoạt động dạy và học ở trường THPT”. Theo đó, trước tiết học giáo viên sẽ chuẩn bị các kiến giải, bài tập, phân chia công việc và hỗ trợ hướng dẫn cho các nhóm học sinh.

Sau khi chuẩn bị, các em sẽ tiến hành tranh biện với nhau để trả lời vấn đề giáo viên đưa ra, giải quyết mâu thuẫn quan điểm và rút ra những bài học cụ thể. Mô hình này đã nhận được giải khuyến khích trong cuộc thi “Tri thức trẻ vì giáo dục” năm 2017 vừa qua.

Những mô hình như của thầy Trân, cô Vân Anh hay của nhiều giáo viên khác tại các Trường Lê Hồng Phong, Trần Khai Nguyên, Marie Curie… (TPHCM) đang áp dụng đã phần nào giúp các em học sinh lấy lại được niềm đam mê tìm hiểu kiến thức và thói quen đặt câu hỏi, vận dụng tư duy để giải quyết vấn đề, tìm ra chân lý.

Tuy vậy, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, đây mới chỉ là những hoạt động đơn lẻ có quy mô nhỏ. Để học sinh nước ta có kỹ năng TDPB thật sự, cần phải có sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía.

Cô Lại Thị Phương Ánh cho rằng: “Học sinh nước ta thông minh, nhạy bén không kém học sinh nước nào. Chỉ cần cả ngành cùng chung tay, cùng một đội ngũ giáo viên đủ năng lực, chúng ta hoàn toàn có thể giúp học sinh làm quen và hình thành TDPB sau một thời gian nhất định”.

Nếu nhìn vào việc các học sinh, sinh viên Việt Nam thay đổi về mặt tư duy thế nào sau vài tháng du học tại các quốc gia phát triển giáo dục phản biện như Mỹ, Úc, Israel… có thể thấy nhận định của cô Phương Ánh là hoàn toàn có cơ sở thực tế.

Để làm được điều này, PGS.TS Huỳnh Văn Sơn cho biết: “Trước hết, các nhà giáo tương lai phải được đào tạo bằng phương pháp dạy học tích cực, chú trọng phát triển năng lực cho học sinh. Bởi vì chỉ có trải nghiệm thì sinh viên sư phạm mới có thể cảm được phương pháp dạy học này, từ đó áp dụng vào công tác giảng dạy của chính bản thân mình trong tương lai. Một khi thay đổi phương pháp giáo dục, lấy học sinh làm trung tâm, đề cao tính chủ thể, tính tích cực của học sinh thì sẽ tạo tiền đề tốt cho việc dạy kỹ năng TDPB cho học sinh”.

“Cần khẳng định, chính giảng viên, giáo viên phải là người có TDPB và là người trước tiên có sự thay đổi cái nhìn của mình về vấn đề này. Trong trường đại học, các khóa học về TDPB là vấn đề mà nhà trường ưu tiên cho giảng viên. Khóa học một số giảng viên tham gia ở Đà nẵng vào tháng 12-2017 vừa qua trong chương trình ETEP là một sự đầu tư nguồn. Và tài liệu TDPB sẽ là vấn đề chúng tôi quan tâm trong thời gian sớm nhất”    PGS-TS Huỳnh Văn Sơn

Hòa Đặng