Bản in

Tiêu điểm

Thứ Năm, 9/5/2019 22:07

Cải thiện chỉ số xếp hạng ĐH không chỉ là nỗ lực của trường ĐH

Ảnh minh họa/internetẢnh minh họa/internet

GD&TĐ - Cải thiện chỉ số xếp hạng ĐH theo THE không đơn giản chỉ là nhiệm vụ và nỗ lực của trường ĐH, mà còn mang hơi thở, phản ánh và chịu sự tác động lớn của sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Đó là quan điểm của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (ĐHQG Hà Nội) sau khi Tạp chí Times Higher Education (THE) công bố bảng xếp hạng 417 trường ĐH khu vực châu Á năm 2019 nhưng không có đại diện nào của Việt Nam.

Phải công bằng trong đánh giá thành tựu giáo dục ĐH Việt Nam

Theo GS Nguyễn Đình Đức, chúng ta phải đánh giá thật công bằng với những thành tựu mà giáo dục ĐH Việt Nam đã đạt được trong những năm qua. Đặc biệt từ khi có Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.

Thể hiện lớn nhất ở 3 điểm nổi bật là: hội nhập quốc tế, chất lượng đào tạo (đào tạo gắn với nghiên cứu, với thị trường và công bố quốc tế) và chuyển dịch mạnh mẽ, thành công cơ cấu ngành nghề, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực của xã hội và ngày càng phù hợp với xu thế của thời đại.

GS Đức khẳng định: chưa bao giờ giáo dục của Việt Nam đổi mới mạnh mẽ, nhanh chóng tiếp cận các chuẩn mực của quốc tế như những năm gần đây. Minh chứng rõ nhất cho nhận định này là những kết quả trong việc kiểm định chất lượng giáo dục ĐH, xếp hạng ĐH. Nếu trước đây hầu như chưa hề có khái niệm về kiểm định và xếp hạng, thì đến nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục ĐH đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng.

Tính đến tháng 5/2016, có 229/266 (chiếm 86,1%) cơ sở giáo dục ĐH do Bộ GD&ĐT quản lý đã thành lập được đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, một số trường còn lại có cán bộ chuyên trách hoạt động đảm bảo chất lượng. Cả nước hiện nay có 5 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đươc thành lập và được cấp phép hoạt động. Gần 400 người đã được cấp thẻ kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục ĐH, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các tiêu chí chuẩn mực của khu vực và thế giới. Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài, nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn. Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học; góp phần quan trong thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập với thế giới.

5 năm về trước, năm 2013, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, chỉ ở mức 2.309 bài. Tuy nhiên, theo thống kê mới đây nhất của nhóm nghiên cứu độc lập (Trường ĐH Duy Tân), tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6-2018, chỉ riêng công bố quốc tế của 30 trường ĐH (hàng đầu) Việt Nam đã đạt 10.515 bài. Con số này hơn cả giai đoạn 5 năm trước đó (2011-2015), khi toàn Việt Nam mới có 10.034 bài.

Nếu chỉ tính riêng các công bố quốc tế thuộc Scopus của Việt Nam, trong vòng 10 năm trở lại đây (2009-2018) đã tăng gần 5 lần.

Thông qua thúc đẩy phát triển các nhóm nghiên cứu (NNC), các trường ĐH đã có sự chuyển biến mạnh cả về lượng và chất. Chất lượng đào tạo tiến sĩ và chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước. Như kết quả khảo sát ở ĐHQG Hà Nội cho thấy, 80% các nghiên cứu sinh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, nhờ trưởng thành trong các NNC nên khi bảo vệ luận án TS đều đã có công bố quốc tế ISI. Và theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay trong các trường ĐH Việt Nam đã có gần 1000 NNC.

Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục ĐH Việt Nam, vào năm 2018, 2 ĐHQG có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QS-Stars.

Những thành tích này không phải trên trời rơi xuống. Mà thực sự là sự nỗ lực vượt bậc của các cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam trên con đường hội nhập với các chuẩn mức trình độ quốc tế.

GS Nguyễn Đình Đức 

Lý do Việt Nam chưa có trường ĐH lọt vào bảng xếp hạng THE

Năm 2019, phương pháp đánh giá để xếp hạng của THE như sau: Tiêu chí giảng dạy chiếm 25% (trước đây giảng dạy chiếm 30%); tiêu chí nghiên cứu chiếm trọng số 30%; trọng số 30% dành cho trích dẫn khoa học; tiêu chí về hợp tác quốc tế chiếm trọng số 7,5%; tiêu chí thu nhập từ chuyển giao tri thức cho công nghiệp 7,5%.

Từ các tiêu chí đánh giá của THE như trên có thể thấy tỷ trọng về danh tiếng chiếm 25%, trích dẫn khoa học chiếm 30% và thu nhập các loại chiếm 17,5%. GS Nguyễn Đình Đức cho rằng đây chính là thách thức lớn của xếp hạng THE với các trường ĐH Việt Nam, và là lý do đến nay chúng ta chưa có trường ĐH nào lọt vào bảng xếp hạng THE.

“Từ thực tiễn cho thấy các trường ĐH xếp hạng cao thường rơi vào các nước phát triển. Để có thứ hạng cao trong xếp hạng THE phải có uy tín và chất lượng cao trong đào tạo, nghiên cứu. Nhà trường phải có nhiều kết quả nghiên cứu xuất sắc và có tầm ảnh hưởng, phải luôn đồng hành cùng doanh nghiệp và nghiên cứu cái mà doanh nghiệp cần để tăng năng suất và sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Cải thiện chỉ số xếp hạng ĐH theo THE không đơn giản chỉ là nhiệm vụ và nỗ lực của trường ĐH, mà còn mang hơi thở, phản ánh và chịu sự tác động lớn của sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước” – GS Nguyễn Đình Đức nêu quan điểm.

Trả lời câu hỏi làm thế nào để Việt Nam có tên trong danh sách bảng xếp hạng 400 của THE, GS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, trước hết phải thay đổi trong nhận thức. Muốn được xếp hạng thì phải đầu tư tâm huyết và công sức cho việc xếp hạng này.

Phương pháp xếp hạng của THE chú trọng đến các tiêu chí cứng và mềm. Những tiêu chí phản ánh của bên thứ 3 với trường ĐH được coi là tiêu chí mềm và chỉ chiếm 15,38%, còn lại 84,62 là các tiêu chí cứng. Vì vậy việc cung cấp và đảm bảo một cách đầy đủ và kịp thời nhất thông tin, dữ liệu, kết quả, thành tích về hoạt động của nhà trường, theo các tiêu chí đánh gia của THE, rất quan trọng và cần được đầu tư, quan tâm và chú trọng.

Bên cạnh đó, THE thu thập dữ liệu theo 3 cách: Điều tra, khảo sát xã hội học; cơ sở dữ liệu của bên thứ 3 và dữ liệu do chính trường ĐH cung cấp. Trong năm 2011, dữ liệu do các trường cung cấp chiếm tới 61,54% tổng các dữ liệu phục vụ việc đánh giá xếp hạng của THE. Do vậy, tự các trường ĐH cung cấp số liệu cho việc xếp hạng là yếu tố tối quan trọng.

Thêm nữa, về mặt kỹ thuật, xếp hạng THE là xếp hạng đánh giá theo các chỉ số, trọng số, tiêu chí, vì vậy, các trường ĐH Việt Nam có thể nghiên cứu để điều chỉnh các hoạt động của mình theo 13 tiêu chí của THE, tác động đến sự thay đổi chỉ số và trọng số của từng tiêu chí để đạt được vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng.

Do vậy, các trường ĐH Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia xếp hạng THE trong tương lai khi nghiên cứu kỹ bảng xếp hạng này, đầu tư duy trì và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu của nhà trường, cung cấp đầy đủ thông tin, dữ liệu cho các phiếu khảo sát, và có đội ngũ chuyên gia am hiểu về xếp hạng THE, có năng lực và khả năng phân tích trả lời các câu hỏi điều tra khảo sát của tổ chức xếp hạng.

“Theo một số thông tin tôi biết, hiện nay đã có một số trường ĐH Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho sự tham gia bảng xếp hạng này” – GS Nguyễn Đình Đức cho hay.

Chia sẻ về việc Việt Nam có 2 trường ĐH lọt vào top 1000 thế giới và nhiều trường khác lọt top 450-500 bảng xếp hạng của tổ chức QS, theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, trong các bảng xếp hạng ĐH thì xếp hạng theo QS Châu Á là phù hợp và dễ đạt được nhất với các trường ĐH Việt Nam. 

"Tuy nhiên, chúng ta nên tiếp cận từng bước, có thứ hạng cao hơn trong QS Châu Á thì mới nên tiếp tục nghĩ đến các bảng xếp hạng có tính toàn cầu như ARWU (của Trường ĐH Giao thông Thượng Hải), THE, QS World. Những năm trước đây, trước khi lọt vào top 1000 ĐH hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS World, 2 ĐHQG cũng đã từng có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng QS Châu Á" - GS Nguyễn Đình Đức cho hay.

PV