Thứ 4, Ngày 7 Tháng 8 năm 2019

Công phu nghề chế cây khèn Mông

Ngọc Diệp - 22/03/2020, 08:25 GMT+7 | Văn hóa
Để chiếc khèn được hoàn chỉnh, nghệ nhân luôn chú ý đến từng chi tiết.Để chiếc khèn được hoàn chỉnh, nghệ nhân luôn chú ý đến từng chi tiết.

Chế tác khèn chính là một trong những nghề độc đáo được người Mông trân quý, gìn giữ qua các thế hệ.

Âm sắc đặc trưng nơi rẻo cao

Mùa hội xuân trên bản Mông không khi nào thiếu tiếng khèn. Khi vào hội khèn tấu lên những giai điệu bồng bềnh da diết. Tiếng khèn nhịp theo bước chân, rung ngân theo điệu múa của các nàng sơn nữ. Khèn cũng được sử dụng như một đạo cụ trong điệu múa mạnh mẽ của những chàng trai núi.

Tiếng khèn thể hiện âm sắc, nét riêng của một vùng văn hóa: Tiếng khèn kết nối giao duyên, gắn kết thế giới âm – dương, âm điệu cuộc sống và tô điểm thêm bức tranh thiên nhiên tươi đẹp nơi rừng xanh ngút ngàn.

Để làm được một cây khèn mang đúng nghĩa, dệt nên những âm thanh của người Mông tự bao đời, không hề dễ dàng. Đó là cả chuỗi những tinh hoa chắt lọc, kinh nghiệm gìn giữ “cha truyền, con nối”. Quá trình gian nan bắt đầu từ việc: Chọn gỗ, dây buộc thân khèn khéo léo, khắc làm sao từng âm điệu cho đúng nhịp vang xa.

Cây khèn là nhạc cụ cổ truyền độc đáo không thể thiếu trong sinh hoạt đời sống của đồng bào Mông. Loại nhạc cụ này thuộc bộ hơi thường được người Mông sử dụng trong những sự kiện quan trọng: Cưới xin, lễ hội, ma chay… Trai gái yêu nhau thông qua tiếng khèn mà ngỏ lời tình tứ.

Tiếng khèn trong trong đám tang để tỏ lòng xót thương, luyến tiếc người quá cố. Các bài khèn nhằm ôn lại lịch sử của con người từ khi sinh ra, lớn lên rồi trở về cõi vĩnh hằng, vô biên.

Trong những dịp lễ hội, khi vui chơi thi thố tài năng, bộc lộ ý chí, nghị lực của con người, người chơi khèn vừa múa, vừa thổi những bài hát ngợi ca quê hương, bản làng, giãi bày tâm tư, tình cảm bằng tiếng khèn véo von, say đắm lòng người.

 Nắn nót từng thao tác chế tác khèn.

Vật liệu chế tác khèn chỉ được tìm thấy nơi núi rừng

Khèn Mông được chế tác từ gỗ Pơ mu và thân cây sặt – một loại trúc nhỏ mọc trên rừng. Ngoài ra, để trang trí và cố kết thân khèn cho thật khít, các nghệ nhân còn dùng vỏ cây đào rừng, loại vỏ vừa dẻo, có màu sắc bền đẹp.

Với phương pháp thủ công, các thợ khèn địa phương mất rất nhiều công phu để có được những cây khèn tiếng vừa hay, vừa đẹp lại có độ bền cao.

Con đường đất dài hơn 10 km trơn trượt, đầy dốc cao từ xã Mường Đăng (huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên) chỉ đủ một người đi vắt qua những núi đồi, vực sâu dẫn đến bản Chan II, nơi sinh sống của 64 hộ dân thuộc cộng đồng dân tộc Mông từ bao đời nay.

Đặt những bước chân đầu tiên lên bản, hướng lên đỉnh núi Thẩm Hái cao hơn 1.500m, chúng tôi đã nghe thấy tiếng khèn trầm bổng vọng lại. Chủ nhân của những thanh âm trong trẻo, bộc lộ vẻ đẹp tự nhiên của vùng cao bao la, hùng vĩ đó là già làng Lý A Lệnh năm nay gần 60 tuổi.

Ông Lệnh được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Ông là người không chỉ biết thổi khèn, múa khèn, mà còn tự chế tác được cây khèn Mông cổ truyền. Ông là một trong những thợ khèn giỏi của Điện Biên, bởi vừa có đôi tay khéo léo, vừa có sự tỉ mỉ, kiên trì, lại có khả năng thẩm âm tốt.

Ông Lý A Lệnh chia sẻ về “cái duyên” đến với cây khèn Mông và gắn bó với nó như một phần không thể thiếu trong cuộc đời. Thuở nhỏ, mỗi lần theo chân cha xuống núi đi chợ phiên, đi chơi hội “gầu tào”, tiếng khèn đã mê hoặc, níu giữ và hằn sâu vào tâm trí Lý A Lệnh.

Dãy núi trập trùng cao vút nơi nghệ nhân Lý A Lệnh sống được gọi là dãy Pơ mu, bởi trước kia đây là xứ sở của loài cây Pơ mu có nhựa thơm và gỗ tốt vào bậc nhất trong các loài cây gỗ ở rừng này. Cây Pơ mu thường mọc ở vùng núi có độ cao từ 900m trở lên, còn các vùng núi thấp xung quanh đây là bạt ngàn những rừng tre trúc.

Trong hàng chục loại tre trúc thường được người vùng cao sử dụng trong đời sống, cây sậy ống nhỏ mà dài làm ống khèn, ống sáo tốt nhất. Mỗi mùa khô đến, ông Lý A Lệnh lại vào rừng tìm hai loại cây này. Để có một cây khèn tốt, không bị nứt nẻ hay mối mọt, các loại vật liệu làm khèn phải được khai thác vào mùa khô.

Ông Lý A Lệnh cho biết: Những chuyến luồn rừng lội suối đi tìm cây rừng để làm khèn rất vất vả, có khi phải đi nhiều ngày. Tuy vậy ông Lý A Lệnh chưa bao giờ nghĩ mình sẽ từ bỏ công việc này, vì đây là nghề truyền thống được tổ tiên người Mông truyền lại từ lâu đời.

Người Mông ngày nay vẫn sống bán tự cấp tự túc trên những đỉnh núi xa xôi. Họ thích làm ra những vật dụng cần thiết phục vụ đời sống như nấu kim loại và rèn các đồ kim khí. Bộ dụng cụ làm khèn với các loại dao, đục, lưỡi bào, lưỡi lam đồng đều do nghệ nhân tự tay làm ra.

Bên bếp lửa hồng, ông Lệnh đưa cho chúng tôi chén trà nóng rồi chậm rãi chia sẻ cách chế tác khèn thường dạy cho con cháu.

Theo ông, gỗ Pơ mu và cây sậy sau khi lấy về được phơi khô. Để tăng độ bền cho ống khèn, cây sậy khô còn được đưa lên gác bếp. Vật liệu làm khèn đã đủ, những buổi nông nhàn, ông Lệnh lại cặm cụi với việc chế tác khèn.

Đây là công việc đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ, không phải ai cũng làm được. Bắt tay vào chế tác cây khèn dân tộc, công việc đầu tiên ông Lệnh thường làm là nấu đồng rèn lam.

Những lưỡi lam đồng nhỏ bé, mỏng mảnh mà rung ngân không phải là thứ sẵn có trên núi cao hay ngoài thị trường. Nghệ nhận chế tác khèn phải học nấu đồng và nắm chắc kỹ thuật tôi, rèn, cho ra các lá đồng có chất lượng tốt và có độ mỏng phù hợp với mục đích sử dụng. Cách nấu đồng truyền thống của các nghệ nhân khá đơn giản mà thú vị.

Họ cho các mảnh đồng vụn vào một chiếc chén sâu nặn bằng đất, đặt chén vào giữa bếp than đang cháy, tiếp tục chất than xung quanh và nung trong khoảng 1 giờ. Kiểm tra thấy đồng đã sôi, nghệ nhân bỏ vào chén đồng đang sôi một loại lá thuốc truyền thống. Đây là bí quyết để có được những lá đồng tốt.

  Nghệ nhân Lý A Lệnh bên chiếc khèn thân thuộc.

Ý nghĩa của 6 ống sáo trên cây khèn

Sau khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu cho cây khèn, ông Lý A Lệnh bắt tay làm bầu khèn và các ống khèn. Gỗ Pơ mu đã phơi khô được ông Lệnh xử lý bằng cách bổ, đẽo tạo thành hình bầu khèn. Sau khâu tạo hình, chiếc bầu khèn còn thô tiếp tục được bổ làm đôi theo dọc thớ gỗ.

Nghệ nhân dùng một loại dao riêng để khoét ruột bầu. Khi khoét ruột xong, hai mảnh bầu khèn được ghép lại thật khít bằng các vòng dây nhỏ, nghệ nhân tiếp tục dùng lưỡi bào sắc bén để bào nhẵn và tạo hình phía bên ngoài của bầu khèn.

Thật ưng ý nghệ nhân mới dùng vỏ cây đào rừng đo và quấn từng vòng quanh ống khèn, sao cho các vòng quấn chặt khít.

Công đoạn tiếp theo để hoàn thành chiếc khèn sẽ là dùi lỗ cho bầu khèn và các ống khèn theo cách thức thủ công truyền thống bằng một thanh sắt tròn, có đầu nhọn được nung đỏ. Trên mỗi ống khèn đều có một lỗ âm và được gắn lam đồng. Cây khèn Mông có 6 ống như ống sáo, có độ dài ngắn khác nhau được cắm xuyên qua bầu.

Mỗi ống sáo có một âm và có tên riêng. Khi thổi khèn, những ống sáo này cùng hòa tấu, tạo nên âm vang đa thanh, khi trầm, khi bổng. Theo truyền thuyết của người Mông xưa, 6 ống khèn tượng trưng cho 6 anh em trong một gia đình. Khi 6 anh em cùng thổi sáo, ai cũng cảm thấy hay nhưng thiếu đi một người tiếng sáo không còn hay nữa.

Để lúc bận rộn không tụ họp đủ 6 anh em nhưng vẫn có đủ 6 thanh âm bổng, trầm, réo rắt, họ đã cùng nhau sáng tạo nên cây khèn 6 ống. Các ống khèn được cố kết với nhau bởi hai vòng dây đào rừng, vừa tượng trưng cho tình anh em đoàn kết, vừa khiến cây khèn trở nên duyên dáng.

Cây khèn đã được hoàn thiện, để thổi khèn, trên đầu thuôn nhỏ của bầu khèn người ta nối thêm một ống trúc ngắn tạo thành ống thổi. Khi thổi khèn, người chơi khèn vừa thổi hơi làm lưỡi gà trên các ống khèn rung lên, vừa dùng tay bấm vào các lỗ trên từng ống sáo, tạo ra âm vang đa thanh. Khèn sau khi hoàn thiện có thể được mang xuống các phiên chợ vùng cao trung tâm thành phố bán, hoặc trao đổi lấy lương thực, vật dụng hàng ngày.

Học thổi khèn dễ nhưng để thổi thành bài, thành điệu rất khó, đặc biệt là đối với những bài múa khèn cổ đã được trao truyền, gìn giữ từ bao đời. Thổi được khèn đã khó nhưng biết múa khèn lại càng khó hơn, đòi hỏi người chơi khèn phải thật sự yêu nghề để có một quá trình luyện tập bền bỉ, miệt mài.

Tùy vào môi trường, không gian biểu diễn, diễn xướng, người múa khèn sẽ vận dụng các động tác như “múa nhảy đưa chân”, “quay đổi chỗ”, “quay tại chỗ”, “vờn khèn”, “lăn nghiêng”, “lăn ngửa”, “múa ngồi xổm”… khi biểu diễn.

Động tác cơ bản trong múa khèn là “đi tiến, đi lùi” theo bốn hướng, mỗi bước di chuyển, chân này chạm gót chân kia; hoặc khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo những đường tròn đồng tâm, hình xoắn ốc. Muốn trở thành một người thổi khèn giỏi, múa khèn đẹp, người chơi phải luyện tập từ bé để có thân hình vừa khỏe khoắn, lại mềm dẻo và có cách lấy hơi dài, luyện khí tốt.

“Nghề” làm khèn, chơi khèn công phu là thế, nhưng ông Lệnh vẫn đau đáu tâm sự: “Cây khèn đang dần vắng bóng trong đời sống sinh hoạt của người Mông. Giờ các cháu trong bản không mấy mặn mà với tiếng khèn gần gũi khiến tôi đắn đo. Điều tôi có thể làm đó là truyền dạy cách làm khèn và sử dụng khèn cho con cháu và người dân trong bản để mỗi dịp Tết đến, xuân về là âm thanh quen thuộc ấy có thể vang xa nơi núi rừng Tây Bắc”.

Trên dãy Pơ mu, cây khèn dìu dịu mùi nhựa thơm còn tấu lên những giai điệu nhớ thương, nhớ về loài cây gỗ quý từng mọc thành rừng, rủ bóng bên những mái nhà người Mông thấp thoáng trong sương mây. 
Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự

Xem thêm

Xem thêm