Bản in

Đọc Nghe Xem

Thứ Tư, 4/1/2017 18:33

Chiêm ngưỡng 16 bảo vật quốc gia Việt Nam

GD&TĐ - Lần đầu tiên Bảo tàng Lịch sử quốc gia giới thiệu tập trung và có hệ thống về các bảo vật quốc gia đang lưu giữ tại Bảo tàng cùng những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.

Theo kế hoạch, 16 bảo vật quý giá sẽ được trưng bày để công chúng thưởng lãm, dự kiến từ 10/1/2017 đến tháng 5/2017.

Những bảo vật được trưng bày gồm: Trống đồng Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ, thạp Đào Thịnh, tượng hai người đàn ông cõng nhau thổi khèn, cây đèn hình người quỳ, mộ thuyền Việt Khê, bia Võ Cạnh, chuông chùa Vân Bản, ấn “Môn hạ sảnh ấn”, bình vẽ thiên nga, bia điện Nam Giao, trống Cảnh Thịnh, ấn “Sắc mệnh chi bảo”, Nhật ký trong tù, sách Đường Kách mệnh, bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”.

Ấn có núm hình rồng cuốn. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán: Thập tuế hoàng kim, trọng nhị bách nhị thập tam lượng lục tiền (Vàng 10 tuổi, nặng 223 lạng 6 tiền - khoảng 8,3kg) và Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo (Đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mệnh 8, 1827). Mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện Sắc mệnh chi bảo.

Ấn được dùng để ban cấp cáo sắc cho văn võ cùng phong tặng thần và người. Đây là hiện vật độc bản, biểu trưng cho quyền lực nhà Nguyễn, có giá trị đặc biệt trong sưu tập kim bảo triều Nguyễn hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

 

Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012,
“Đường Kách mệnh” là tập hợp những bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động cách mạng ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1925 – 1927, do Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành bí mật và chuyển về nước. 

“Đường Kách mệnh” là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về đấu tranh giải phóng dân tộc gắn với cách mạng vô sản, là nền tảng cho việc tìm hướng đi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam và được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam.

 

Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.
Trống đồng Cảnh Thịnh hiện vật độc bản trong phức hợp trống đồng Việt Nam. Tạo hình trống thể hiện sự độc đáo khi mô phỏng theo kiểu trống da truyền thống. Hoa văn trang trí chính đúc nổi đề tài Tứ linh mang ý nghĩa biểu trưng cho đất nước thái bình thịnh trị, xã hội an lạc và Long Mã cõng Hà đồ, Thần Quy chở Lạc thư, hai biểu tượng khởi nguyên của Kinh Dịch – tư tưởng triết học của người Á Đông về quy luật của sự biến đổi.

Một giá trị đặc biệt khác của trống đồng Cảnh Thịnh chính là phần tư liệu. Các dòng lạc khoản khắc trên thân cho biết trống được đúc vào tháng 4 nhuận năm Cảnh Thịnh thứ 8 thời Tây Sơn (1800) tại Chùa Cả (Linh Ứng tự), tức Chùa Nành, xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay.

Đặc biệt, một bài minh dài 222 chữ dẫn thuyết lý do, mục đích đúc trống nói về người trong xã là bà Nguyễn Thị Lộc, vợ của Tổng Thái giám Giao quận công vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời vua Lê Ý Tông (1736) đã tập phúc góp công dựng chùa Linh Ứng. Ghi nhớ công lao của bà, nhân dân trong xã đã cùng nhau đóng góp công sức, tiền của để đúc trống và những đồ thờ khác dâng lên ban Phật để lưu truyền, nhắc nhở con cháu đời sau luôn ghi nhớ công đức của tiền nhân.

 

Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013, là tấm bia cổ nhật Đông Nam Á. Bia là khối đá có hình trụ đứng. Trên 3 mặt khắc chữ Sanskrit. Đây là tấm bia cổ nhất còn lại của Vương quốc cổ Champa. Bia được khắc bằng chữ Phạn cổ cho biết nhiều thông tin có giá trị về lịch sử Vương triều Tiền vương quốc Nam Chăm. Minh văn còn cho biết sự du nhập và ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo vào Chămpa từ sớm.
 

Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013.
Đây là loại quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có kích thước lớn nhất trong số những ngôi mộ có quan tài bằng thân cây khoét rỗng hay còn gọi là một thuyền đã phát hiện ở Việt Nam.

Bên trong mộ chứa 109 đồ tùy táng gồm chủ yếu là đồ đồng, bao gồm các loại hình vũ khí, nhạc khí, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt.

Đây là mộ thuyền có kích thước lớn nhất, hiện trạng nguyên vẹn nhất, chứa đựng nhiều đồ tùy táng quý hiếm của văn hóa Đông Sơn, là nguồn tài liệu nghiên cứu các ngành nghề thủ công truyền thống và lịch sử hình thành giai cấp trong xã hội Đông Sơn.

 

Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.
Cây đèn thể hiện theo hình tượng một người đàn ông mình trần đóng khố tư thế đang quỳ, hai tay nâng đĩa đèn. Mình trần, thân dưới mặc khố. Tượng có khuôn mặt bầu, mắt mở to, miệng hơi mỉm cười, quanh môi có ria mép. Đầu tượng được gắn vương miện, tóc để chỏm. Hai vai và sau tượng gắn 3 cành chữ S, mỗi cành chữ S đỡ một đĩa đèn và gắn 1 hình người đang quỳ.

Trên hai đùi và đằng sau người đàn ông có 4 nhạc công cũng ở tư thế quỳ, hai nhạc công đang thổi sáo. Cánh tay, cổ tay có đeo trang sức, tai đeo hoa hình khuyên to tròn. Trên vai và quanh bụng được trang trí những mô típ chuỗi hoa sen.

Cây đèn hình người quỳ là một hiện vật độc bản, đại diện cho nghệ thuật cổ tiêu biểu, độc đáo vào thời kỳ cuối văn hóa Đông Sơn, có sự giao lưu với văn hóa Hán. Cây đèn thể hiện kỹ thuật đúc tài khéo và phản ánh thảm mỹ cảm quan về vũ trụ của cư dân cổ giai đoạn này. Chính vì vậy, cây đèn hình người quỳ xứng đáng đề cử xem xét xếp vào danh mục Bảo vật Quốc gia.

 

Thời Trần, niên hiệu Long Khánh thứ 5 (1377), quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.

Phát hiện năm 1962 tại xã Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Ấn hình vuông, đế ấn tạo ba cấp, núm ấn hình bia đá. Cạnh phải lưng ấn khắc dòng chữ Hán: “Môn hạ sảnh ấn” - ấn của sảnh Môn hạ. Cạnh trái lưng ấn khắc dòng chữ  “Long Khánh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo” - chế tạo vào ngày 23 tháng 5, niên hiệu Long Khánh 5, đời vua Trần Duệ Tông (trị vì: 1372 - 1377). Mặt ấn hình vuông, đúc 4 chữ kiểu triện cùng nội dung chữ trên cạnh phải lưng ấn “Môn hạ sảnh ấn”. 

Sảnh Môn hạ là một trong những cơ quan hành chính trung ương cao nhất thời Trần, do vua Trần Minh Tông (trị vì: 1314 - 1329) đặt ra năm Khai Thái 2 (1325) thay cho Hành khiển ty ở cung Quan triều thuộc Nội mật viện.

Đây là cơ quan thân cận của nhà vua, có nhiệm vụ giữ bảo ấn, truyền lệnh của vua tới các quan, nhận lời tấu lên vua và các công việc lễ nghi trong cung. Chức quan ở sảnh này đều do các quan đại thần đảm nhiệm. “Môn hạ sảnh ấn” được dùng để đóng trên những văn bản hành chính quan trọng của triều đình bắt đầu từ đời vua Trần Phế Đế (trị vì: 1377 - 1388) về sau. 

Cho tới nay, những phát hiện về ấn đồng các triều đại phong kiến Việt Nam không nhiều. “Môn hạ sảnh ấn” là chiếc ấn đồng có nội dung rõ ràng nhất, niên đại cụ thể nhất liên quan đến lịch sử hành chính trung ương triều Trần.

 

Bảo vật thời Trần, thế kỷ 13-14, quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013; là chiêc chuông cổ nhất đồng thời có kích thước lớn nhất, uy nghi nhất của nền văn minh Đại Việt. Quai chuông gắn Bồ Lao hình rồng 2 đầu. Thân chuông chia thành 8 ô ngăn các bởi các đường gờ nổi. Miệng chuông đúc nổi băng cánh sen kép. Chuông có 6 núm gõ hình hoa sen nở mãn khai. 

Trên thân chuông khắc minh văn chữ Hán nói về những người có công khai phá sơn lâm, mở mang đất đai lập dựng chùa Vân Bản là nhà sư tu khổ hạnh và Cư sĩ Đại Ố; những người cúng dường đất cho chùa là Thị vệ nhân dũng thủ Nguyễn Văn Kịp và vợ Chu Thị Trãi cùng anh vợ là Chu Lâm.

Đặc biệt, minh văn cho biết lai lịch chuông do vị quan Tả bộc xạ cúng tiến vào chùa. Minh văn còn là lời dặn gửi đời sau phát tâm công đức giữ gìn chùa, không để bị hủy hoại, không được khuyết thiếu việc hương hỏa. Hoa lợi từ ruộng đất cúng dường thì dành cho cúng lễ, giỗ chạp.

Chuông là nguồn tài liệu quý để nghiên cứu lịch sử, văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung, thời Trần nói riêng.

 

Hải Bình