Bản in

Trao đổi

Thứ Năm, 12/10/2017 18:47

Giai âm bốn khúc đàn Kiều

Giai âm bốn khúc đàn Kiều

GD&TĐ - Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du nhiều lần nhắc đến việc Kiều đánh đàn, nhưng đặc tả tiếng đàn ấy thì trước sau có bốn lần. Bốn lần Kiều đàn ở bốn hoàn cảnh, tâm trạng khác nhau, nhưng đều hay như nhau – yêu đương và đau khổ.

1.

Lần thứ nhất là Kiều đàn cho Kim Trọng nghe sau lần gặp gỡ với mười tám câu thơ. Lần thứ hai là Kiều đàn cho Hoạn Thư nghe khi nàng bị bắt và hành hạ ở nhà họ Hoạn với sáu câu thơ. Lần thứ ba là Kiều bị ép hầu đàn cho Hồ Tôn Hiến sau khi Từ Hải lâm chung với bốn câu thơ. Lần cuối là Kiều lại đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm tái hợp với mười câu thơ:

So dần dây vũ dây văn

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương

Khúc đâu Hán Sở chiến trường

Nghe ra tiếng sắc tiếng vàng chen nhau

Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu

Nghe ra như oán như sầu phải chăng!

Kê Khang này khúc Quảng Lăng

Một rằng Lưu Thủy hai rằng Hành Vân

Quá quan này khúc Chiêu Quân

Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối khi cúi đầu

Khi vò chín khúc khi chau đôi mày.

Đây là khúc nhạc yêu đương và cũng là lần đầu tiên Kiều đàn cho người yêu tâm đầu ý hợp nghe.

Trong mười tám câu thơ miêu tả tiếng đàn này, ta thấy tác giả hoàn toàn để cho nhân vật thể hiện một cách tự do, tình yêu bộc lộ một cách tràn trề mãnh liệt.

Kiều đàn bằng cảm hứng thực thụ của trái tim nóng bỏng. Lấy thơ để tả nhạc là chuyện không hề đơn giản, nhưng ở đây ta thấy có đầy đủ âm sắc và rất đa giọng, lúc cao trong lúc trầm đục, lúc khoan lúc mau, lúc quyến luyến mềm mại tha thiết, lúc dữ dội kiêu hùng, lúc buồn thương trầm hồn ai oán.

Qua tiếng đàn, ta có cảm giác như Kiều muốn thổ lộ hết trái tim mình với người yêu lý tưởng vậy.

Tiếng đàn đa nhịp, mang âm hưởng dìu dặt, có bố cục chặt chẽ như một bài nhạc cổ điển. Khúc đàn thứ nhất này còn nhắc đến nhiều điển tích, đó là những khúc nhạc nổi tiếng, vượt thời gian của những danh sĩ ngày xưa.

Khúc Phượng cầu hoàng của Tư Mã Tương Như đã làm Trác Văn Quân cảm động mà bỏ nhà đi theo. Khúc Quảng Lăng tán của Kê Khang, danh sĩ đời Tấn khi nhớ về nước Ngụy, trong lúc bị bức thiết thê thảm. Khúc Chiêu Quân buồn thương man mác khi giã từ đất Hán sang Hồ. Khúc Hán Sở chiến trường sắc vàng chen nhau bi hùng chiến trận…

Tất cả được phối hợp với các từ láy “sầm sập, ngơ ngẩn, não nùng, dìu dặt” và các điệp từ “khúc đâu, này khúc, trong như, đục như, tiếng khoan, tiếng mau…” để tạo âm giai bất tuyệt, vang vọng của nhiều tiếng đàn khác nhau, để lột tả được tâm trạng của người con gái đang yêu, mang trong mình con tim thổn thức, sự đa cảm mãnh liệt của tình yêu thuở đầu đời.

Và tiếng đàn ấy cũng đã được chàng Kim thưởng thức, đồng điệu một cách trọn vẹn “Ngọn đèn khi tỏ khi mờ/ Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu/ Khi tựa gối khi cúi đầu/ Khi vò chín khúc khi chau đôi mày”.

Nếu xét về việc xây dựng khúc đàn thứ nhất này thì ta thấy Nguyễn Du chịu ảnh hưởng bài “Cầm ca” của Lý Kỳ:

Sơ nghi táp táp lương phong động

Hậu tự tiêu tiêu mộ vũ linh

Cận nhược lưu truyền lai bích chướng

Viễn như huyền hạc hạ thanh minh

(Lúc đầu là ngỡ như gió mát thổi rì rào

Sau lại cho là mưa chiều rơi rào rạt

Gần như suối đổ trên vách núi xuống

Xa như tiếng hạc dội từ trên cao)

Nhưng cho dù có mượn ý thơ của Lý Kỳ, Nguyễn Du đã vượt xa Lý Kỳ về kỹ thuật thâu tóm và chuyển hóa âm thanh. Nghe khúc đàn Kiều ta có thể phóng xa trí tưởng tượng. Hình ảnh thoát ra từ âm thanh, ý vươn ra ở ngoài lời.

2.

Cũng là người đàn ấy, cũng là người nghe ấy, nhưng mười lăm năm sau vật đổi sao dời, hoàn cảnh đã khác, con người trải qua quá nhiều biến động, đau khổ, bụi cuộc đời giằng xé con tim thê thảm, nên khúc đàn thứ tư cũng đã khác xưa hoàn toàn. Nó vẫn hay nhưng đã ở cõi nào xa lơ xa lắc:

Phím đàn dìu dặt tay tiên

Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa

Khúc đâu đầm ấm dương hòa

Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh

Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên

Trong sao châu dỏ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông

Lọt tai nghe suốt năm cung

Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao

Khúc đàn cuối này nó không còn cái dồn dập, rạo rực như khúc đàn của thuở ban đầu, mà thay vào đó là khúc đàn của con người trải nghiệm. Kinh qua nỗi đau lưu lạc, lăn lóc bầm dập trên thớt đời, con người như lột xác và hóa kiếp để nhập vào một thế giới khác.

Dù nợ đời đã trút trả xong, nhưng nợ chút tình xưa thì vẫn còn vương vấn. Chính vì vậy mà khúc đàn thứ tư này vẫn khoan nhặt một nỗi niềm yêu thương nồng ấm.

Trong cái ngậm ngùi của phút giây tái hợp có cái vui của sum vầy, thanh thản, nên âm hưởng của tiếng đàn trở nên nhẹ nhàng, êm ái.

Nếu xưa dồn dập mãnh liệt thì nay đầm ấm trong trẻo, mơ màng. Khúc đàn thứ tư này nó như một khúc nối của khúc đàn thứ nhất mà nhà nghệ sĩ tạm thời ngắt quãng mười lăm năm. Tiếng hạc cao trong thuở nào lại tiếp tục bay qua thoát vòng tục lụy.

Nếu cái tình trong khúc đàn thứ nhất là tình yêu nơi trần thế thì ở khúc cuối này nó đã được tâm linh hóa, nó gần như xóa khoảng cách của tình yêu để thành tình bạn.

Khúc “êm ái xuân tình” là muốn nhắc đến mối tình đầu của Lý Thương Ẩn trong bài “Cầm sắt”, Kiều cũng như Lý đau khổ cả đời vì mối tình đầu này. Rồi sau đó là “hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên” đó là sự mất mát, không còn gì, chỉ còn là sự tiếc nuối. Sau cùng là Trang Sinh hồ điệp, còn biết mình nữa là ai… Chỉ còn chăng là cái tình tan dài trong hai bờ thực mộng mà thôi.

3.

Nếu ở khúc đàn thứ nhất và thư tư là giai điệu của yêu thương thì khúc hai, ba là những khúc đàn của giai điệu đau khổ. Đó là tiếng đàn bật ra từ nghẹn ngào, uất ức, người đánh đàn như gượng gạo vì chịu nhiều áp lực bên ngoài lẫn bên trong tác động. Và đây là khúc đàn thứ hai, Kiều đàn cho Hoạn Thư nghe:

Bốn dây như khóc như than

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng

Cùng trong một tiếng tơ đồng

Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm

Giọt châu lã chã khôn cầm

Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương

Và đây là khúc thứ ba, Kiều hầu đàn cho Hồ Tôn Hiến:

Một cung gió thảm mưa sầu

Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay

Ve ngâm vượn hót nào tày

Lọt tay Hồ cũng nhăn mày rơi châu

Hai khúc đàn hai và ba này hoàn toàn trái ngược với khúc một và bốn. Nó không có cái đa dạng, phức hợp của nhiều cung bậc trầm bổng cao thấp khác nhau, nó không có cái rạo rực, ấm áp của tình yêu, mà thay vào đó là cái đơn điệu như cùng một âm điệu trầm buồn thê thiết.

Nguyễn Du không kéo dài khúc đàn đau khổ, bốn dây đàn to nhỏ như bị đè nén cho qua sự. Nguyễn Du cũng không dùng điển tích để đặc tả hay liên tưởng đến những danh cầm khác. Tiếng đàn không bật ra từ con tim nóng bỏng mà lại bật ra từ máu và nước mắt.

Nguyễn Du đã miêu tả hai khúc đàn này bằng một thứ tiết tấu rề rà sầu não. Cách nhắt nhịp ở đây cũng có phần đột ngột, biểu thị cái uất ức nghẹn ngào, một thứ âm thanh của nỗi ê chề cay đắng.

Ở khúc đàn thứ hai, ta thấy Nguyễn Du chỉ cần một câu nhưng nói được cái gan ruột nhất của nhân vật “Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”.

Đó là sự đối lập của kẻ hành hạ và kẻ bị hành hạ, kẻ thì làm cho hả hê, thỏa mãn, kẻ thì đau khổ chịu đựng. Tiếng của nước mắt va đập vào tiếng đàn biến nhạc lòng thành nhạc điệu. Tất cả như càng đánh thức thêm nỗi đau của kẻ bị hành hạ hầu đàn.

Cùng một cung “gió thảm mưa sầu” với khúc đàn thứ hai, nhưng khúc đàn thứ ba lại càng bi thương thê thảm hơn rất nhiều. Nếu liền trước đó là Kiều đàn bằng nước mắt thì liền sau đó là Kiều đàn bằng máu.

Còn gì đau đớn hơn là Kiều phải lấy máu của mình mua vui cho Hồ Tôn Hiến! Một tiếng đàn ẩn chứa ba nỗi đau. Nỗi đau của kẻ tòng phạm giết chồng, nỗi đau mất chồng và nỗi đau bị hạ nhục làm con hầu phục vụ cho kẻ giết chồng mình. Có thể nói đây là tiếng đàn đau đớn nhất trong toàn cõi Truyện Kiều.

ĐÀO THÁI SƠN