Bản in

Trao đổi

Thứ Năm, 31/8/2017 08:30

Cảm hứng dân tộc trong Bình Ngô đại cáo

Cảm hứng dân tộc trong Bình Ngô đại cáo

GD&TĐ - Được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo nhằm công bố rộng rãi trong cả nước về công cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418-1427) đã giành được thắng lợi hoàn toàn, Bình Ngô đại cáo được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc, “có ý nghĩa trọng đại của một bản tuyên ngôn độc lập” (Ngữ văn 10, tập 2, Nxb Giáo dục).

Thật vậy, tác phẩm xuất sắc này của Ức Trai được coi là “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai” của nước Đại Việt tự chủ ở thời trung đại. Bởi bài cáo bất hủ này được viết ra bằng cả tấm lòng yêu nước và tự hào, tự tôn dân tộc của bậc anh hùng toàn đức toàn tài.

Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, công cuộc kháng Minh thắng lợi vẻ vang, đất nước ta được hoàn toàn độc lập, Bình Ngô đại cáo mang âm hưởng hùng tráng và cảm hứng dân tộc đậm đà, hào sảng. Cảm hứng ấy được thể hiện trên nhiều bình diện, chi phối chủ đạo mạch tư tưởng của tác phẩm đồng thời nói lên được nhiều điều ở con người vĩ đại trọn cuộc đời chỉ biết lo nghĩ cho đất nước (Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông) của nước ta ở thế kỷ XV.

1.

 
Trước hết, cảm hứng dân tộc ấy được thể hiện qua lòng tự hào, ý thức tự tôn về quốc gia, dân tộc; qua việc khẳng định hùng hồn sự bình đẳng, ngang hàng trên phương diện quốc tế của nước ta với nước Trung Hoa của tác giả.

Không phải ngẫu nhiên mà ở những dòng đầu tiên của bài cáo, Nguyễn Trãi viết: “Như ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang” (Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu).

Ta chú ý các chữ “Đại Việt”, “ngã” và “thực”. Về quốc hiệu Đại Việt, đây là một sự khẳng định dứt khoát sự bình đẳng của dân tộc ta đối với người Trung Hoa. Bởi các triều đại phong kiến Trung Quốc trong mấy ngàn năm tồn tại, tự cho nước họ là trung tâm của thiên hạ và chỉ họ mới được mang quốc hiệu gắn với chữ Đại (To, lớn; như Đại Hán, Đại Đường, Đại Minh) còn các nước nhỏ xung quanh chỉ là man, di, nhung, địch, là những mọi, rợ sống tăm tối và chưa biết phép tắc.

Việc lấy quốc hiệu Đại Việt cũng có giá trị thiêng liêng như việc các vị vua nước ta xưng đế vậy. Về hai chữ NgãThực. Ngã nghĩa là ta, Thực nghĩa là thật, sự thật hiển nhiên.

Việc xưng ta và khẳng định Đại Việt sự thật hiển nhiên là một nước có nền văn hiến lâu đời không chỉ là lời tuyên bố dõng dạc, hùng hồn về sự bình đẳng của hai dân tộc mà còn là lời phản bác nghiêm khắc đối với tư tưởng phản động xem các nước nhỏ xung quanh là mọi rợ, mông muội của phong kiến Trung Hoa. Và trên hết, đó là ý thức đề cao, tự hào dân tộc sâu sắc và lòng yêu nước nồng nàn của một bậc vĩ nhân “Thương sinh tại niệm độc tiên ưu” (Vì nhân dân thường nghĩ trong lòng riêng một nỗi lo trước cái lo thiên hạ).

2.

Thứ hai, cảm hứng dân tộc trong Bình Ngô đại cáo được thể hiện chân thành, sâu sắc mà cũng tràn đầy hào hứng, sôi nổi trong cảm nghĩ của tác giả về công cuộc kháng chiến của dân tộc và kết quả của nó.

Đó là cảm tưởng về những tháng ngày nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, gian nguy (Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần/ Khi Khôi Huyện quân không một đội) nhưng quân tướng một lòng, nhân dân một dạ (Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào) tất cả đồng lòng, kiên trung, son sắt, nung nấu ý chí diệt giặc báo thù (Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời/ Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối). Có thể nói, Đại cáo bình Ngô là một trong những tác phẩm viết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cảm động nhất.

Đó còn là thái độ căm giận, phẫn nộ trước tội ác tày trời “trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi” của bọn “quân cuồng Minh thừa cơ gây họa” (Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ/ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế/ Gây binh kết oán trải hai mươi năm… Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới giăng/ Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt,…); là niềm hân hoan, tự hào, kiêu hãnh trước thắng lợi vĩ đại của dân tộc và kết cục thảm bại của quân cướp nước (Đánh một trận sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông/ Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp/ Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng/ Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng).

Không có gì lạ khi bài cáo đã dành một dung lượng rất lớn để ghi lại “nhật kí” những ngày chiến thắng cùng với sự mô tả tỉ mỉ, cụ thể những mốc thời gian gắn với những chiến công quan trọng (Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại/ Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang…/ Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế/ Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu/ Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong/ Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn).

Bởi lẽ, để có được ngày chiến thắng, dân tộc đã phải chịu đựng biết bao nhiêu đau thương, gian khổ. Viết về chiến thắng bằng tất cả những gì hào sảng, hùng tráng nhất là biểu hiện rất rõ của cảm hứng dân tộc trong Đại cáo bình Ngô.

3.

Thứ ba, cảm hứng dân tộc còn được biểu hiện qua sự suy nghiệm, tự hào về tầm vóc thời đại của dân tộc, của chiến thắng trước quân thù.

Dân tộc ta không chỉ có truyền thống văn hiến lâu đời (Vốn xưng nền văn hiến đã lâu… Song hào kiệt thời nào cũng có), có nền độc lập tự chủ cùng cương vực lãnh thổ của riêng mình (Núi ông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác/ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương); không chỉ là một dân tộc phải chịu muôn vàn đau thương, tủi nhục dưới sự xâm lăng của kẻ thù, phải trả giá quá lớn cho nền độc lập, hòa bình (Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng/ Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc) mà ta còn là dân tộc yêu chuộng hòa bình, căm ghét chiến tranh.

Ta bước ra chiến trận với vị thế người chiến thắng nhưng biết đối xử với kẻ thù bằng điều nhân nghĩa, không những tha mạng cho tàn binh bại tướng mà còn mở đường, cấp cho phương tiện để họ về nước (Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh/ Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc/ Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run).

Truyền thống nhân đạo, yêu hòa bình, lấy hòa hiếu làm đầu tốt đẹp ấy của dân tộc ta được kế thừa từ bao đời và sẽ được phát huy trong thời đại mới, ở hai cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược sau này.

 

Ta bước ra từ chiến thắng, “đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi), không kiêu căng, ngạo nghễ nhưng cũng ý thức rất rõ sự đánh đổi, ý nghĩa và nguyên nhân của chiến thắng ấy. Thắng lợi có được trước quân xâm lăng phương Bắc hung dữ, tàn bạo phải trả giá bằng sự hi sinh lớn lao của bao nhiêu người con của đất nước, cho nên thiêng liêng hơn bao giờ hết.

Đó không phải là chiến thắng của một cá nhân nào, mà là chiến công của toàn dân tộc trên dưới đồng lòng sự lãnh đạo của những lãnh tụ tài năng, bản lĩnh, hết lòng yêu nước thương dân (Ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không cùng sống…/ Phần vì giận quân thù ngang dọc/ Phần vì lo vận nước khó khăn…/ Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh/ Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều).

Càng thấm thía giá trị của chiến thắng trước quân thù bao nhiêu, càng hiểu rằng kháng chiến là vì đất nước và nhân dân bao nhiêu (Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức), cảm hứng dân tộc trong bài cáo càng sâu sắc, nồng nàn bấy nhiêu, Nguyễn Trãi xứng đáng là vị anh hùng dân tộc, con người trọn đời lo nghĩ cho dân (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân).

4.

Cuối cùng, cảm hứng dân tộc còn thể hiện qua niềm hân hoan, tin tưởng ở tương lai, vận mệnh dân tộc khi lịch sử đã sang trang, một kỉ nguyên hòa bình, độc lập, tự chủ được mở ra cho đất nước sau những thắng lợi dồn dập trên cả hai mặt trận quân sự và ngoại giao khiến quân Minh phải đầu hàng, rút tàn quân về nước.

Đọc đến cuối bài cáo, không thể nào quên những câu văn hào sảng, lạc quan, tràn đầy tin tưởng của tác giả: “Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới/ Càn khôn bĩ rồi lại thái/ Nhật nguyệt hối rồi lại minh/ Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu/ Muôn thuở nền thái bình vững chắc”.

Và quả thật, đúng như ước mơ “dân giàu đủ khắp đòi phương” của Ức Trai, đất nước ta dưới triều đại nhà Lê, đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông, đã phát triển đến độ toàn thịnh chưa từng thấy trong lịch sử thời phong kiến. Để có được điều ấy, chiến thắng trước quân Minh xâm lược giành lại độc lập, tự chủ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Tin tưởng vào tương lai tương sáng của đất nước, cảm hứng dân tộc trong Bình Ngô đại cáo vì thế cũng mang đậm chất lãng mạn và sử thi hơn.

5.

“Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Ức Trai lòng dạ sáng sao Khuê), đó là những lời vua Lê Thánh Tông dành để ca ngợi Nguyễn Trãi sau khi sửa sạch cho vị anh hùng dân tộc nỗi oan án Lệ Chi Viên thảm khốc. Ngày nay, vượt qua sự thử thách của gió bụi thời gian, con người, nhân cách cũng như sáng tác của Ức Trai lại càng ngời sáng.

Ông mãi là người con ưu tú của dân tộc, không chỉ bởi tài năng lỗi lạc trên rất nhiều phương diện mà còn ở tấm lòng đau đáu suốt đời yêu nước thương dân “bình sinh độc bão tiên ưu” (Một đời duy chỉ biết ôm chí lo cho dân).

Nghĩ về Nguyễn Trãi, ta cảm phục trước một nhân cách lớn lao, dù bị dèm pha hắt hủi, lúc được trọng dụng hay khi bị nghi kị ruồng bỏ vẫn không thôi lo nghĩ cho dân cho nước, ta kính yêu trước một tài năng xuất chúng và một tâm hồn rất đỗi thanh cao.

Bình Ngô đại cáo là một trong những tác phẩm chính luận xuất sắc nhất của Nguyễn Trãi, áng “thiên cổ hùng văn” của văn học nước nhà, “bản tuyên ngôn độc lập” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử dân tộc.

Ở đó kết tinh những giá trị tư tưởng của Ức Trai, trong đó nổi bật với tư tưởng yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và một quan niệm về quốc gia, dân tộc hết sức đúng đắn, tiến bộ và rất hiện đại. Tác phẩm mang âm hưởng sử thi hùng tráng với một cảm hứng dân tộc tha thiết, mãnh liệt, hào hùng.

Cảm hứng dân tộc ấy được biểu hiện trên nhiều phương diện nhưng tất cả thống nhất ở lòng tự hào, tự tôn dân tộc của tác giả. Nó được kế thừa từ truyền thống hào khí Đông A và sẽ tiếp tục chảy mãi trong hai dòng chủ lưu của văn học nước ta là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo đến thơ văn yêu nước sau này.

PHẠM TUẤN VŨ