Bản in

Thời sự

Thứ Ba, 24/4/2012 13:57 GMT+7

Gặp vị tướng từng chắp bút "Kế hoạch nghi binh"

Gặp vị tướng từng chắp bút "Kế hoạch nghi binh"

(GD&TĐ) - Đầu tháng 11-1973, ông Khuất Duy Tiến - khi đó đang là Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) - được cấp trên điều về làm Tham mưu phó Sư đoàn 320. Nhậm chức ở Sư đoàn chưa được một tuần, ông lại có quyết định về vị trí mới: Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận B3-Tây Nguyên.

(GD&TĐ) - Đầu tháng 11-1973, ông Khuất Duy Tiến - khi đó đang là Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) - được cấp trên điều về làm Tham mưu phó Sư đoàn 320. Nhậm chức ở Sư đoàn chưa được một tuần, ông lại có quyết định về vị trí mới: Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận B3-Tây Nguyên. Ở vị trí mới này, ông đã trở thành người chắp bút giúp Bộ tư lệnh Mặt trận thực hiện “Kế hoạch nghi binh” khi ta bước vào giai đoạn đầu của Chiến dịch Tổng tiến công mùa xuân năm 1975. 

Trung tướng Khuất Duy Tiến
Trung tướng Khuất Duy Tiến

Gần 40 năm trôi qua, người cán bộ Tác chiến ngày ấy nay đã bước sang tuổi 82, song kỷ niệm về những tháng ngày sát cánh cùng đồng đội ở Mặt trận Tây Nguyên như vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức vị tướng trận mạc… 

Về Phòng Tác chiến Mặt trận B3 khoảng nửa tháng thì Trưởng phòng Khuất Duy Tiến được cử ra Hà Nội dự tổng kết chiến dịch Tây Nguyên năm 1972 và nhận kế hoạch chuẩn bị phương án tác chiến trong các năm 1975-1976. 

Theo kế hoạch ban đầu: Mặt trận B3 được Bộ giao nhiệm vụ mở thông con đường vận tải nối giữa Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, tức là chỉ “vén” địch ra để xây dựng một con đường vận tải chiến lược. Phòng Tác chiến Mặt trận đã tham mưu, đề xuất xây dựng kế hoạch mang tên “Chiến dịch tháng 2-1975” với các mục tiêu tấn công vào Thuần Mẫn, Đức Lập, Gia Nghĩa… nhằm mở thông con đường vận tải ấy. 

Nhưng do tình hình thay đổi, sau chiến thắng Phước Long, Trung ương đánh giá Mỹ không có khả năng can thiệp, phương án tác chiến trong năm 1975 hướng tấn công chính sẽ là các thành phố, thị xã. Thế là từ tháng 10-1974, khi vừa hoàn chỉnh xong kế hoạch tác chiến cho “Chiến dịch tháng 2-1975”, Trưởng phòng Khuất Duy Tiến lại cùng anh em trợ lý bắt tay vào xây dựng một kế hoạch khác. 

“Trước lúc làm kế hoạch mới, tôi có hỏi đồng chí Vũ Lăng (khi đó đang là Cục trưởng Cục Tác chiến-Bộ Tổng Tham mưu) xem có cần thay đổi tên kế hoạch không, Cục trưởng Vũ Lăng bảo: “Cứ đề là “Kế hoạch 2-1975” rồi thay nội dung khác là được”, anh còn gợi ý: “Các cậu cần tính để ta có thể xây dựng phương án đánh Buôn Ma Thuột trong trường hợp địch không có phòng ngự dự phòng, chỉ “chọi” với Trung đoàn 53 của địch đang chốt tại đó” – Trung tướng Khuất Duy Tiến nhớ lại. 

Một phương án nghi binh được Bộ tư lệnh đưa ra họp bàn với anh em các bộ phận, sau đó cấp trên giao nhiệm vụ cho Phòng Tác chiến xây dựng kế hoạch này. Tháng 10-1974, sau 2 tuần soạn thảo, kế hoạch nghi binh do Trưởng phòng Khuất Duy Tiến viết, tổng hợp thành 10 trang giấy pơ-luya chính thức được đồng chí Vũ Lăng thông qua. Khi ấy, đồng chí Vũ Lăng đã được cấp trên giao giữ chức Tư lệnh Mặt trận B3, ông cẩn thận dặn người Trưởng phòng Tác chiến: “Cậu nhớ giữ kín nhé, trước mắt là chỉ mình với cậu biết thôi đấy!”.  

Nội dung kế hoạch “Nghi binh 10-1974” được tiến hành trên 4 hướng gồm: hướng bắc, đông bắc thị xã Kon Tum; hướng tây, tây nam thị xã Kon Tum; hướng đường 19 An Khê và hướng tây Plây-cu. Tham gia vào kế hoạch nghi binh ngoài lực lượng tại chỗ được bố trí ở các hướng còn có một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ nghi binh gồm 2 máy 15W của Trung đoàn thông tin cùng hai tổ cơ yếu, trong đó một máy làm nhiệm vụ đóng giả một sư đoàn mới vào, một máy đóng giả Sở chỉ huy tiền phương của B3. Dĩ nhiên, kế hoạch nghi binh chỉ được phổ biến đến Thủ trưởng Phòng Tham mưu và các bộ phận cơ quan trực tiếp làm, còn các đơn vị thực binh tuyệt đối không được biết.  

Ngồi ôn lại chuyện cũ, Trung tướng Khuất Duy Tiến kể rằng: Một lần đồng chí Thanh Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 đã hỏi ông: “Anh Tiến này, sư đoàn của tôi nhận nhiệm vụ đánh thật hay đánh giả đấy?”, ông nghiêm giọng: “Thật chứ, sao lại có chuyện đánh giả ở đây!”.

Bản thảo “Kế hoạch nghi binh 10-1974” do Trung tướng Khuất Duy Tiến viết hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Bản thảo “Kế hoạch nghi binh 10-1974” do Trung tướng Khuất Duy Tiến viết hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Kế hoạch nghi binh được Phòng Tác chiến Mặt trận B3 quy định gọi tắt là kế hoạch B. Các đơn vị được phổ biến quy định là khi nhận kế hoạch tác chiến mà có chữ “kế hoạch B” thì chỉ huy đơn vị cần lưu ý… không làm theo.

Chẳng hạn Sư đoàn 10 nhận nhiệm vụ hành quân cơ động trong “kế hoạch B”, nhưng thực tế cả sư đoàn vẫn đóng quân tại chỗ để nghi binh địch. Việc nghi binh được bắt đầu triển khai từ giữa tháng 11-1974 và trong khoảng thời gian 4 tháng (từ tháng 11-1974 tới đầu tháng 3-1975) địch bị phía ta đưa vào “ma trận” với thật giả lẫn lộn. Có một lần ta di chuyển “thật” mà bị chúng “đánh hơi” được, đó là giữa tháng 2-1975, địch hay tin sư đoàn 320 và sư đoàn 10 của ta đã di chuyển xuống phía nam Tây Nguyên, chúng liền điều Trung đoàn 45 từ Kon Tum xuống lùng sục dọc đường 14. Biết sư đoàn 320 có nguy cơ bị lộ, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định cho sư đoàn lui quân để giữ bí mật, Trưởng phòng Khuất Duy Tiến đã phải trực tiếp thảo một bức điện rồi tới đưa tận tay Sư đoàn trưởng Kim Tuấn chứ không sử dụng máy 15W. 

Trung tướng Khuất Duy Tiến bảo rằng, những ngày làm việc ở cơ quan tác chiến trong thời kỳ diễn ra Chiến dịch Tây Nguyên 1975 đã rèn cho ông một thói quen “ngủ tranh thủ” vào bất kỳ giờ nào, bởi hồi đó công việc hằng ngày luôn tất bật, tối đến, các đơn vị mới có điện báo về, người Trưởng phòng Tác chiến phải nắm hết nội dung cơ bản của các bức điện, rồi triển khai nội dung chỉ đạo cho các đơn vị ngay trong đêm. 12 giờ đêm, ông bắt đầu đọc các bức điện do anh em Trợ lý Tác chiến tổng hợp, sau đó đề xuất với cấp trên. Xong nội dung này thì cũng khoảng 1, 2 giờ sáng, và đúng 4giờ 30 mỗi sáng Phòng Tác chiến phải tổ chức giao ban, kết thúc cuộc giao ban Phòng là kịp tới giao ban Bộ tư lệnh vào lúc 6 giờ. Có hôm cuộc giao ban của Bộ tư lệnh tới 8 giờ sáng mới xong. Lúc đó, những bức điện quan trọng do cấp trên triển khai ông phải trực tiếp soạn, còn lại do anh em trợ lý đảm nhiệm. “Ngày nào công việc cũng căng như vậy, trong khi Chiến dịch kéo dài tới hàng tháng, vì thế mà tôi phải tự rèn cho mình một thói quen “tranh thủ chợp mắt” vào bất cứ giờ nào, dù thời gian ngủ chỉ là 5-10 phút…” – Trung tướng Khuất Duy Tiến kể. 

Trong thời gian diễn ra Chiến dịch Tây Nguyên, Trung tướng Khuất Duy Tiến có một kỷ niệm khó quên với chiến sĩ cần vụ tên là Lưu Đình Thiều. Thiều quê ở Ân Thi, Hưng Yên và đã ở cùng từ khi ông còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64. Ở chiến trường, việc ăn uống rất kham khổ, có lúc tiêu chuẩn hằng ngày chỉ có 2,5 lạng gạo/người, trong khi Thiều khá to cao nên thường xuyên bị đói, trong khi ông vốn ăn ít, có ngày mải việc, ông chỉ cần ăn vài chiếc kẹo, vì thế mà ông thường hay nhường suất cơm của mình cho người chiến sĩ cần vụ.  

Trung tướng Khuất Duy Tiến ngậm ngùi kể lại: “Thiều là người rất thật thà, chịu khó. Một tối, tôi đang ngồi nghiên cứu bản đồ trong phòng làm việc thì Thiều mang đến hai miếng dứa nhỏ bằng hai ngón tay. Thiều đưa cho tôi một miếng. Tôi hỏi: “Dứa ở đâu ra thế?”. Thiều giấu không nói, nhưng gặng mãi, Thiều mới thật thà kể là dứa của anh em đi trinh sát trận địa mang về. Tôi nghiêm giọng, bảo: “Lấy của dân phải không? Đã trót rồi thì thôi, nhưng từ nay không được thế, mình phải gương mẫu để anh em đơn vị noi theo chứ”. Biết mình sai, Thiều im lặng, rơm rớm nước mắt... Sau ngày Buôn Mê Thuột giải phóng, Thiều nhận nhiệm vụ đi cùng đồng chí Mẫn - Trưởng ban bản đồ - vào thị xã thu gom một số tài liệu, vật dụng cần thiết cho cơ quan tác chiến. Đâu ngờ, trong chuyến đi ấy, Thiều hy sinh...”.  

Cho tới nay, có một điều vẫn làm ông day dứt, ấy là khi đất nước thống nhất, ông có về Hưng Yên để tìm hiểu gia cảnh và công tác chính sách đối với người cần vụ của mình, nhưng chẳng ai nắm rõ về liệt sĩ Lưu Đình Thiều. Ông chỉ biết Thiều quê ở thôn Lưu Xá, xã Hồ Tùng Mậu (Ân Thi, Hưng Yên). Gần 40 năm trôi qua, mỗi khi nhớ lại những giọt nước mắt ân hận của Thiều trong buổi tối ngoài Mặt trận, ông lại thầm trách về sự nghiêm khắc của mình và luôn canh cánh một nỗi niềm: Không biết Thiều đã “trở về” quê hương chưa, hay từng ấy năm anh vẫn còn nằm lại cánh rừng cao su giữa đại ngàn Tây Nguyên?... 

“Khi Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, tổng kết lại mới thấy việc nghi binh đã được anh em các đơn vị phối hợp thực hiện rất tốt” - vị tướng trận mạc chân thành bộc bạch. Theo ông, việc chủ động tấn công và dùng phép nghi binh lừa địch của quân ta đã thành công. Trong khi ta điều hai sư đoàn chủ lực là Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 từ bắc Tây Nguyên xuống nam Tây Nguyên, Sư đoàn 316 cũng được điều từ miền Bắc vào nam Tây Nguyên thì địch vẫn tin rằng Quân giải phóng sẽ đánh vào bắc Tây Nguyên, do đó ta đã thu hút một lực lượng lớn của địch lên phía bắc Tây Nguyên, đồng thời bao vây, cô lập Buôn Mê Thuột để có được thắng lợi trong trận then chốt.  

Khi đất nước thống nhất, 10 trang giấy pơ-luya kế hoạch “Nghi binh 10-1974” đã được Trung tướng Khuất Duy Tiến lưu giữ làm kỷ niệm trong suốt 35 năm, cho tới ngày 11-2-2009, hưởng ứng Cuộc vận động “Sưu tầm và giới thiệu những kỷ vật kháng chiến”, Trung tướng Khuất Duy Tiến đã đem tặng lại kỷ vật ấy cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.  

Trung tướng Khuất Duy Tiến sinh ngày 27-2-1931 tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Từ tháng 12-1973 đến tháng 11-1976, ông là Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận B3-Tây Nguyên. Từ tháng 12-1976 đến tháng 11-1979, ông là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, tham gia làm nhiệm vụ quốc tế tại Cam-pu-chia.

Sau đó ông đảm nhiệm các chức vụ: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 3 (1980-1984); Tư lệnh Quân đoàn 3 (1984-1989); Cục trưởng Cục Quân lực-Bộ Tổng Tham mưu (1989-1994); Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I (1994-1997). Hiện ông đang nghỉ hưu tại Khu tập thể 34A Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội.

Bài, ảnh: Bùi Vũ Minh

Gửi ý kiến bạn đọc

Refresh