Bản in

Kinh tế - Xã hội

Thứ Bảy, 2/11/2013 07:22

"Thần kèn" làng Mo

"Thần kèn" làng Mo

(GD&TĐ) - Cách trung tâm huyện Qùy Hợp (Nghệ An) chưa đầy 15km, cách trụ sở UBND xã Văn Lợi chưa đầy 2km, thế nhưng phải đánh vật cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới vào đến làng Mo. Lại sau một cơn mưa, đường vào đây đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Đường đi khó, nhưng nghe danh “thần kèn” Trương Văn Lợi, chúng tôi vẫn quyết tâm ngược đường vào làng Mo

(GD&TĐ) - Cách trung tâm huyện Qùy Hợp (Nghệ An) chưa đầy 15km, cách trụ sở UBND xã Văn Lợi chưa đầy 2km, thế nhưng phải đánh vật cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới vào đến làng Mo. Lại sau một cơn mưa, đường vào đây đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Đường đi khó, nhưng nghe danh “thần kèn” Trương Văn Lợi, chúng tôi vẫn quyết tâm ngược đường vào làng Mo

Giữ trọn hồn quê

c
Tiếng kèn bắt nguồn từ cây cót, hoa lá của rừng

Hỏi đường đến nhà già Lợi không khó một bà cụ bán hàng nói: “Ông nghe thấy tiếng kèn không? Ông Lợi đang thổi kèn đó. Lần theo tiếng kèn mà đến. Chỉ cách có quăng dao nữa thôi”. Chiều sau mưa, bầu trời quang đãng hơn, gió thổi mang theo cái lành lạnh ở miền núi cao, tiếng kèn như thôi thúc, như gọi mời. Gia đình già Lợi hôm nay đang lợp nhà cho con trai cả, anh em, bạn hữu đến giúp khá đông. Già Lợi đã trên 70 tuổi, vẫn còn khỏe và minh mẫn. Để mọi người bớt đi cái mệt, cái vất vả, thêm không khí vui vẻ để làm việc, già Lợi mang kèn ra thổi. Hòa lẫn trong tiếng kèn tha thiết là tiếng hát dạ ời, đu đu điềng điềng của đám thợ ngân nga chen vào… Có lẽ vì thế mà việc lợp nhà đỡ vất vả hơn, diễn ra chóng vánh hơn.

Sinh năm 1939 tại làng Mo, từ nhỏ, tiếng kèn của các già trong làng, của người cha như thôi miên ông. 10 tuổi, ông đã trốn cha lấy chiếc kèn treo ở cột nhà sàn để tập thổi. Không người hướng dẫn, tiếng kèn đầu phập phù, ngượng ngùng. Khi tay đã quen cầm kèn, miệng đã biết ngậm thổi đúng cách, ông nhờ cha, nhờ những người già, theo đám trai làng học cách luyến láy. 

Gần một năm mày mò, cuối cùng ông cũng chinh phục được chiếc kèn. 12 tuổi, ông thuộc làu làu từng giai điệu, từ kèn Sải du dương, trầm bổng đến Lồng Ba reo vui như nước suối nguồn. Tiếng kèn của ông hồi đó làm nức lòng bao sơn nữ. Trong số đó có bà Trương Thị Phượng là vợ ông bây giờ. Bà yêu ông, thương thầm, nhớ trộm ông cũng vì tiếng kèn da diết, rạo rực đó; vì cái lãng tử trong tiếng kèn; vì cách thổi kèn diệu nghệ, bay bổng đó. Và quá nửa thế kỷ sống với nhau, tình cảm vợ chồng vẫn mặn nồng, son sắt như hồi trẻ. Ông cho rằng, mình “giữ” được vợ nhờ chính tiếng kèn.

Lên 17 tuổi, ông làm công nhân của Công ty Lâm khẩn (Nông Thổ Sản) Nghệ An rồi công tác tại Bộ Giao thông - Vận tải. Sau giải phóng miền Nam, ông về công tác tại Xí nghiệp 16 cho đến lúc nghỉ hưu. Xa quê, xa gia đình biền biệt gần 30 năm trời, bàn chân ông đã đi hết làng quê này đến thành phố nọ, nhưng chưa lúc nào ông nguôi nhớ về tiếng kèn làng Mo nơi chôn rau cắt rốn của ông. Trong chiếc ba-lô cũ mèm, sờn chỉ đựng đủ các vật dụng cá nhân cần thiết, vẫn có một ngăn dành riêng cho chiếc kèn. Những năm tháng chiến tranh, đêm chạy xe, ngày mắc võng nằm dưới hầm nghỉ lấy sức, ông lấy kèn ra thổi. Tiếng kèn nói hộ nỗi lòng của ông, nỗi nhớ quê, nhớ vợ, nhớ con thơ và tạo cho ông động lực để kiên cường chiến đấu. 

Người thầy của âm thanh dòng tộc

Năm 1983, ông nghỉ hưu, trở về làng Mo sinh sống. Nhưng làng đã có những đổi thay, tiếng kèn, tiếng cồng chiêng trong làng thưa dần, trai gái đến với nhau không còn bằng tiếng kèn say đắm, bằng câu hát dạ ời tha thiết nữa. Ông trăn trở lắm. Nhiều đêm trằn trọc đến mất ngủ. “Cái làng này có đến 93% dân số là dân tộc Thổ, có dân ca, dân vũ riêng. Nhưng người già thì vắng dần, người trẻ chẳng còn mặn mà với kèn, với pí, với điệu tập tính tập tang, đu đu điềng điềng… Xót xa, tiếc nuối lắm chớ. Phải neo giữ lại, phải khôi phục, phải thổi vào người trẻ niềm đam mê và ý thức giữ gìn”. Hai nhiệm kỳ làm Bí thư chi bộ làng Mo, ông tìm cách khôi phục lại vốn văn hóa của dân tộc mình. Bắt đầu từ tiếng kèn. Những hôm sinh hoạt chi bộ, họp làng cho đến những cuộc vui, những chuyện buồn trong bản, ông đem tiếng kèn của mình đến phục vụ. Và rồi như một lẽ tự nhiên, tiếng kèn như có sức hút kỳ lạ với những người làng Mo. Nghe, thấy hay, thấy yêu thích, thấy mê và bỏ công tập luyện. Một người, vài người rồi lan tỏa, rồi thành phong trào. Thấy thế ông mừng lắm. Ông cho lớp trẻ mượn kèn, dạy họ cách thổi, cách phối các nhạc cụ chiêng, trống với kèn. Tổ nhạc được thành lập với gần 20 thành viên. Và rồi cuộc vui nào của làng, của xã cũng có các tiết mục do tổ này phục vụ. Từ lễ mừng nhà mới, lễ thôi nôi, lễ cúng lúa mới, đám cưới, đám hỏi đến lễ hội, các ngày kỷ niệm… làng Mo lúc nào cũng rộn ràng tiếng kèn, tiếng chiêng. “Giờ cả làng đã có trên vài chục người biết thổi kèn, đánh trống, đánh chiêng. Trong đó, lớp trẻ chiếm phần đa. Làng cũng sắm đủ các nhạc cụ để phục vụ các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Giờ mình có về trời cũng chẳng lo văn hóa Thổ bị mai một. Có người kế cận rồi”, nói xong, ông cười mãn nguyện.

Gắn bó với nhạc cụ dân tộc, trách nhiệm với việc bảo tồn bản sắc dân tộc mình, chưa bao giờ ông mong chờ nhận một tấm giấy khen hay một lời khen ngợi. Bởi với ông, đó là trách nhiệm, là tâm huyết, là đam mê. Anh Trương Văn Hồng, Xóm trưởng xóm Mo cho biết: “Làng Mo được công nhận làng văn hóa từ năm 2005, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 65%. Điều đáng mừng là làng Mo vẫn giữ được bản sắc của dân tộc Thổ trong sinh hoạt hàng ngày, tạo nên bản sắc riêng so với các làng, bản khác. Trong đó có công không nhỏ của già Lợi”.

Chiều xuống nhanh. Mây trắng bạc đã sà xuống trên ngọn đa đầu làng. Bắt tay chào tạm biệt nhưng tiếng kèn của già Lợi vấn vương, quấn quýt như lời tiễn dặn. Bản sắc văn hóa dân tộc đâu dễ phôi pha nếu vẫn còn những người tâm huyết, trách nhiệm như già Lợi; ý thức giữ gìn, khôi phục như đồng bào Thổ ở làng Mo.

Phúc Đức