Bản in

Kinh tế - Xã hội

Thứ Ba, 5/11/2013 06:44

Mưu sinh nhờ măng rừng

Mưu sinh nhờ măng rừng

(GD&TĐ) - Mùa măng rừng thường từ tháng Sáu đến hết tháng Mười âm lịch. Khi những cơn mưa đầu mùa ẩm ướt qua đi cũng là lúc những mầm măng vươn mình nhú lên khỏi mặt đất. Đó cũng là thời điểm vào vụ làm ăn của những người dân miền Tây xứ Nghệ - mùa ngược rừng hái măng....
Gùi măng đi chợ phiên

(GD&TĐ) - Mùa măng rừng thường từ tháng Sáu đến hết tháng Mười âm lịch. Khi những cơn mưa đầu mùa ẩm ướt qua đi cũng là lúc những mầm măng vươn mình nhú lên khỏi mặt đất. Đó cũng là thời điểm vào vụ làm ăn của những người dân miền Tây xứ Nghệ - mùa ngược rừng hái măng. Người dân địa phương vẫn đùa: Mùa hái “lộc” rừng.

Đồng ra đồng vào nhờ măng

Sương sớm còn bủa vây dãy núi Pù Mát, người dân xã Thạch Ngàn (huyện Con Cuông, Nghệ An) đã cơm đùm, cơm nắm vào rừng hái măng. Tre, nứa, luồng, mét,... ở vùng rừng này vẫn còn nhiều. Tre rừng chịu nắng hạn tốt, mọc cheo leo trên sườn núi. Mùa hè, nắng nóng như thiêu đốt, thân tre gầy rạc, lá úa vàng xơ xác, nhưng chỉ cần một trận mưa là um tùm xanh tươi. Khi những cơn dông đầu mùa kéo đến, mưa bất chợt trút xuống cánh rừng, những thân tre già cựa mình uống nhựa đất mà nảy những chồi măng nhú lên đầy sức sống. 

Măng rừng như thứ lộc của rừng, là nguồn thu nhập ngoài nương rẫy, ruộng vườn của những gia đình đồng bào dân tộc vùng cao, là loại “lâm sản” được nhiều người vùng xuôi ưa thích. Chị Lương Thị Nga (bản Khe Búng, xã Thạch Ngàn) cho biết: “Mùa này, việc nương rẫy đã hoàn thành, mưa xuống, măng lên, bà con dân bản theo đường mòn, ngược rừng hái măng.

Măng tre, măng nứa, măng giang,... tùy mỗi loại cây khác nhau mà việc lấy măng cũng khác nhau. Măng lồ ô, giang, nứa chỉ to bằng ngón chân cái, mỏng và mềm nên bẻ loại này cũng đơn giản. Còn măng tre thì lớn hơn, có cái bằng bắp chân, phải dùng dao nhọn đâm mạnh vào đất mới lấy được”.

Cánh rừng thâm u, sau nhiều tháng dài hạn hán, đất khô rang, chỉ cần một trận mưa, những mầm măng lập tức đội đất nhô lên. Theo những cư dân địa phương cho biết, thường thì mùa măng rừng kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 Âm lịch.

Trong khoảng thời gian này, hầu như gia đình nào cũng đều có người vào rừng hái măng. Dân bản ví mùa này là mùa đi hái “lộc” rừng. “Nhờ có những mùa măng như thế này mà gia đình mình có đồng ra đồng vào, con cái có sách vở đến trường học chữ”, anh Kha Văn Hoằng (bản Kẻ Da, xã Thạch Ngàn) “khoe”. 

Quãng giêng hai, khi măng quá lứa thành cây tre non, người dân lại khai thác “măng rung”. Lúc này măng đã thành cây tre, giang, nứa cao quá đầu người nhưng vẫn còn non, ngọn măng vẫn còn ăn được, con người dùng sức rung mạnh cây, ngọn măng gãy và rơi xuống, đem về luộc kỹ là dùng được.

Loại này ăn đắng hơn, nhưng lại được nhiều người chuộng bởi cái vị đắng của nó. Khi róc lớp áo bao bọc bên ngoài, “măng rung” không còn trắng nõn như măng mầm mà có màu trắng xanh. Ở các nhà hàng, “măng rung” chấm mắm tôm hoặc chẻo lạc đã  trở thành “đặc sản”, rất được thực khách ưa dùng.

Tư thương vào tận bản thu mua măng

Thành quả của mồ hôi và nước mắt

Nghề bẻ măng khá vất vả. Phải đi từ sáng sớm, phải leo núi, xuyên rừng. Rừng bị tàn phá nhiều, tre, nứa, giang bị chặt hạ, đốt làm rẫy nên măng cũng hiếm dần. Muốn hái được nhiều măng phải vào tận rừng sâu, có khi đi cả ngày mới được một gùi măng mang về, róc vỏ, đem luộc sơ rồi bán, chưa kiếm nổi 100 ngàn đồng. Đó là chưa kể những lần bất trắc, bị ngã vì đường đi, bị côn trùng, vắt rừng cắn… 

Chị Phượng, một người có “thâm niên” nghề hái măng cho biết: “Nghề nào cũng có cái cực nhọc riêng. Hái măng cũng vậy, để kiếm được một trăm, dăm chục ngàn đồng, phải dậy từ lúc tờ mờ sáng, vượt mấy ngọn đồi, cách nhà cả gần chục cây số mới lùng (tìm) được măng.

Măng bây giờ không sẵn như ngày trước nên tìm hái cũng khó khăn hơn. Gai tre, gốc tre cứa làm chân tay bị cào xước, chảy máu; rồi sau đêm mưa, rừng ẩm ướt sên vắt nhiều, bám vào chân người hút máu; lại ruồi vàng, bọ chó tấn công... Nhưng, rẫy ít, công việc không có, cũng phải chịu khó. Dù gì thì măng cũng được coi là “lộc” rừng, là nguồn thu nhập chính của dân bản vào những ngày nông nhàn”. 

Cũng theo chị Phượng, măng hái về, nếu đem bán ngay thì giá thấp, còn nếu qua chế biến sẽ được giá hơn. Cách “chế biến” đơn giản nhất là luộc. Măng được lột sạch vỏ, dùng que nhọn đâm thủng các “mắt” bên trong rồi bỏ vào nồi, bắc lên bếp lửa.

Măng luộc vừa chín tới là vớt ra, để ráo nước, đem nhập cho tư thương. Khi thời tiết thuận lợi, nắng to, khi măng đang ở chính vụ, chưa được giá thì sau khi luộc, dùng dao róc mỏng, đem phơi thành măng khô nhập cho các đại lý. Măng rừng ngon, lại không có hoá chất độc hại nên hiện rất được thị trường ưa chuộng.

Chính vì thế nên măng rừng của người dân vùng cao cũng được nhiều thương lái vào tận nơi thu mua. Các đại lý, chợ măng rừng cũng ra đời ở các bản, dân bản hái được chừng nào là tư thương thu mua chừng đó.

Mùa này, lên với các huyện miền Tây xứ Nghệ, dọc đường đi, người ta bày bán rất nhiều măng. Măng củ nguyên vỏ, măng đã qua sơ chế, măng chua, măng ngâm ớt... Những phiên chợ ở thị trấn Hòa Bình (huyện Tương Dương), Trà Lân (huyện Con Cuông), thị trấn Kim Sơn (huyện Quế Phong), thị trấn Quỳ Châu... hình ảnh những phụ nữ trên lưng mang những gùi măng nặng từ các bản xa ra chợ đã trở thành quen thuộc với khách xa.

Trên những chuyến xe, những xâu măng củ, những giỏ măng luộc, những hộp măng chua... trở thành quà biếu không thể thiếu của những người miền xuôi khi lên đây công tác trở về. 

Vào bản làng vùng cao mùa này, những bếp lửa luộc măng bập bùng trong ánh hoàng hôn nhập nhoạng. Mùi măng hăng hăng, ngòn ngọt thoang thoảng quyện theo những ngọn khói trên những nóc nhà sàn.

Với dân bản nơi đây, dù công việc đi hái măng trong rừng sâu khá vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng rất có ý nghĩa, bởi thu nhập từ những gùi măng đã phần nào đỡ đần gia đình họ trong những lúc khó khăn để đợi chờ mùa thu hoạch trên nương rẫy.

Phúc Đức