Bản in

Chuyện làng giáo

Thứ Sáu, 2/10/2015 12:42

Ở lại cùng Cấm La…

Ngoài đảm nhận dạy 3 lớp ghép, thầy Phan Văn Mễ còn tình nguyện nhận trông giúp trẻ cho những gia đình có hoàn cảnh khó khănNgoài đảm nhận dạy 3 lớp ghép, thầy Phan Văn Mễ còn tình nguyện nhận trông giúp trẻ cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn

GD&TĐ - Tôi cứ liên tưởng đến hình tượng thầy giáo Đuy-sen trong Người thầy đầu tiên - một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của đại văn hào Chingiz Aitmatov - khi nghĩ về thầy giáo Phan Văn Mễ (Trường TH&THCS Quế Lâm, điểm trường Cấm La, xã Quế Lâm, Nông Sơn, Quảng Nam).

Nếu không có tình yêu, lòng trân trọng nghề, có lẽ người thầy ấy không bao giờ có được một nghị lực phi thường để gắn bó với miền quê hiểm địa khuất nẻo sông Thu Bồn suốt hơn 35 năm qua.

Đến đây thì ở lại đây

Năm 1979, vừa mới tốt nghiệp trường sư phạm, chàng thanh niên Phan Văn Mễ khăn gói về Cấm La nhận nhiệm sở. Thầy tâm sự: “Mấy chục năm trước, ở đây làm chi có đường, cứ vạch cây, lội bùn mà đi thôi. Cực khổ thì nói chi nữa. 

Cô cứ hình dung ri cho dễ, cách đây chưa đầy chục năm thôi, muốn chợ búa, mua sắm thì phải đi bộ từ đây ra bến sông mất khoảng 2 tiếng đồng hồ, rồi ngồi đò xuống Trung Phước cũng mất khoảng chừng nớ thời gian nữa. 

Có những thời gian, thiếu giáo viên, một mình mình dạy bên Nà Lau, rồi lại phải sang dạy ở Đồng Lớn, cứ vạch cây rừng mà đi; đi đường tắt thì gần nhưng đầy cọp nên không dám. Và sốt rét. Sốt rét không chừa một ai…”. 

Các cụ cao niên ở Cấm La giải thích, trước đây ở vùng này rất nhiều cọp. Người đồng rừng dặn nhau không được la lớn bởi nếu thế không những không phát hiện được cọp mà còn thu hút sự chú ý của “ông ba mươi”, dễ mất mạng như chơi.

Cho dù phòng học ở Cấm La bây giờ cũng không thể gọi là khang trang, nhưng theo thầy Mễ là “đã kiên cố lắm rồi”. Hồi thầy mới về đứng lớp ở Cấm La, phòng học chỉ là căn nhà gỗ đã mục nát, chỉ chực sập xuống, “cứ mỗi một mùa mưa bão đi qua mà trường không sao là mình thở phào”, thầy kể. 

Phòng học sập, bà con lại chung tay dựng lại để thầy trò nhanh chóng có chỗ dạy - học. Thầy Mễ như một người cha tận tụy với đàn con của mình. 

Những ngày mưa gió, cứ tan buổi học, thầy lại chia học sinh thành từng nhóm, lần lượt đưa các em băng qua suối rồi lại quay trở lại trường đưa nhóm khác về nhà.

“Chứ mình cứ nhấp nhổm không biết học sinh mình liệu có an toàn trên đường về không thì còn cực hơn, nên mất công thêm một chút cũng được”. Mấy chục năm như thế, những dấu chân của thầy và trò đã tạo ra những con đường giữa nơi thâm u rừng núi. 

Còn một lý do nữa để người thầy giáo giữa đại ngàn ngày ngày vẫn lặng thầm đưa đón học sinh qua suối: “Vận động học sinh ra lớp đã khó, giữ học sinh theo học còn khó hơn, nên làm được gì để các em thấy gắn bó với trường lớp, với sách vở thì có khó mấy mình cũng nhận làm”.

Suốt mấy chục năm ở nơi không điện, không đường… và nhiều cái không khác nữa, thầy Phạm Văn Mễ tâm sự rất chân tình: “Buồn chớ sao không”. 

Thầy kể, “Hồi mình mới đến đây dạy, giáo viên khá đông, nhưng rồi người thì tìm cách xin chuyển về dưới xuôi, người không trụ lại được với nghề, cuốn theo cơn lốc tìm trầm, đãi vàng. Dạy được 2 năm, mình cũng đã có lần có ý định xin chuyển về quê ở Điện Bàn, nhưng rồi bà con đề nghị mình ở lại. 

Nếu quyết thì cũng có thể “dứt áo ra đi”, nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại, ở đâu thì mình cũng làm nghề giáo, có gì khác nhau đâu. Lúc mình vật vã vì những cơn sốt rét hành hạ, bà con thay nhau đến chăm, người thì bát cháo, người đem đến mấy quả trứng gà… 

Bà con tuy nghèo khó nhưng quý thầy giáo như người nhà. Ân tình ấy thành món nợ đời người, khiến mình chọn Cấm La thành quê hương thứ hai”.

Và khi bén rễ, xanh cây…

Suốt mấy chục năm ròng, ở điểm trường thôn Cấm La, thầy Phan Văn Mễ vừa là giáo viên tiểu học của cả mấy lớp học, vừa đảm nhiệm vai trò của một giáo viên mẫu giáo. 

Không có trường mầm non, thầy Mễ đảm nhận luôn việc trông trẻ cho bà con ở Cấm La lên núi mưu sinh. Phòng học gồm 3 lớp ghép quay lưng vào nhau. Một mình thầy với 3 cái bảng, lại phải trông chừng đám trẻ con chơi luẩn quẩn bên ngoài hành lang. 

“Hồi nớ không có thầy Mễ, thiệt tình bọn tui không biết gửi con cho ai để đi mần ăn. Thầy vừa dạy chữ, vừa giữ trẻ, cả làng này ơn nghĩa thầy không biết mô mà kể”, bà Nguyễn Thị Em (63 tuổi), một người dân có mặt ở làng kinh tế mới Cấm La từ năm 1980 nói một cách mộc mạc.

Năm học này, thầy Mễ đảm nhận 3 lớp ghép, mỗi lớp 2 chỉ có hai học sinh, cộng thêm vài đứa trẻ con nhà nghèo không có điều kiện gửi về trường trung tâm xã, bà con mang đến gửi thầy. 

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi biết thầy Phan Văn Mễ đã từng làm Hiệu trưởng Trường Tiểu học Sầm Nai, rồi khi sát nhập với một trường khác ở Quế Lâm để thành Trường Phổ thông Quế Lâm, thầy được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng trong thời gian khoảng 10 năm. 

Và rồi thầy trở thành giáo viên đứng chốt ở điểm lẻ thôn Cấm La cho đến tận bây giờ. Trong câu chuyện dông dài, thầy tự nhận rằng kiến thức mình đã bị tụt hậu vì phương tiện không có. 

“Mấy chục năm trời, mỗi lần đi họp, tập huấn dưới trung tâm huyện cũng mất hết một ngày đường, điện không có, radio thì phập phù, mãi cho đến khi mình “chế” được cái tuốc - bin phát điện thì bà con mới biết được cái ti vi vừa có cả tiếng, vừa xem được hình” – Thầy kể.

Giờ thì Cấm La đã khác xưa nhiều lắm, đường giao thông đã được bê tông hóa, suối đã có cầu cống vững chải bắc qua, điện cũng đã kéo về thôn. 

Nhưng nỗi trăn trở, ưu tư của thầy Mễ không vì thế mà vợi bớt: “Cả thôn Cấm La, suốt mấy chục năm ni chưa có em nào học lên đến cao đẳng, đại học. Đa phần các em học xong THCS là nghỉ, vào rừng phụ giúp cha mẹ. 

Lớn lên chút nữa thì đi làm thuê mướn, làm công nhân ở các thành phố lớn. Năm ni, Cấm La có một em tham dự Kỳ thi THPT quốc gia, rứa là cũng đã mừng lắm rồi”. 

Bà con ở Cấm La chủ yếu sống nhờ vào rừng, nhưng mấy năm gần đây, với chủ trương giao đất rừng, việc mưu sinh trở nên khó khăn hơn vì vẫn đang phải chờ cấp đất rừng mới. 

Việc học của con trẻ vì vậy cũng bị ảnh hưởng theo. Bà Trần Thị Bé, trưởng thôn Cấm La kể: “Năm ni cả thôn có 9 đứa vào lớp 10 thì đã hết 7 đứa nghỉ học vì gia đình khó khăn”.

Câu chuyện ở Cấm La cùng với những trăn trở của thầy giáo già theo chúng tôi về xuôi. Con đường như dài ra và thêm khúc khuỷu…

Hà Nguyên