Bản in

Giáo dục

Thứ Tư, 13/11/2013 09:09

"Nặng" đào tạo, "nhẹ" nghiên cứu

"Nặng" đào tạo, "nhẹ" nghiên cứu

(GD&TĐ) - Thời gian qua, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường đại học đã đem lại hiệu quả to lớn, nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn cao...

(GD&TĐ) - Thời gian qua, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường đại học đã đem lại hiệu quả to lớn, nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn cao. Tuy nhiên, hoạt động NCKH ở nhiều trường đại học chưa tương xứng với tiềm lực và yêu cầu. Báo GD&TĐ đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Tạ Đức Thịnh  - Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường (Bộ GD&ĐT)  về những vấn đề liên quan.

Ông đánh giá thế nào về hoạt động KH&CN trong các trường ĐH, CĐ hiện nay?

PGS.TS Tạ Đức Thịnh 

Hiện nay, trong cả nước có trên 400 trường ĐH, CĐ, 2 ĐH quốc gia, 3 ĐH vùng, cùng hàng trăm viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu nằm trong các trường đại học.

Nhìn chung, hoạt động KH&CN của các trường ĐH, các viện và các trung tâm nghiên cứu này rất đa dạng và sinh động, đã bám sát và thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển GD&ĐT, KTXH của đất nước theo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, được thể hiện trong kết quả triển khai các đề tài, dự án thuộc các chương trình KKHXH&NV cấp Nhà nước, các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm độc lập cấp Nhà nước; các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực KHTN, KHXH&NV, KH&CN phục vụ công nghiệp, nông lâm ngư, y tế, chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường. 

Hoạt động KH&CN của các trường ĐH, CĐ trong thời gian qua cũng đã gắn kết chặt chẽ với đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt là đào tạo ThS, TS.

Nhiều luận án TS, luận văn ThS là kết quả thực hiện các đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Ngành.

Nhiều kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học là những tài liệu có giá trị phục vụ công tác đào ĐH và sau ĐH. Số lượng học viên cao học và NCS tham gia nghiên cứu đề tài cấp Bộ ngày một tăng, kết quả nghiên cứu đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc thay đổi phương pháp dạy và học trong các trường đại học, góp phần nâng cao đáng kể chất lượng đào tạo.

Các nghiên cứu xây dựng bài giảng điện tử, các phần mềm dạy học, các hệ thống Elearning với rất nhiều ưu điểm như thu hẹp khoảng cách, giảm chi phí và thời gian đi lại đã giúp cho sinh viên có thể chủ động bố trí thời gian học và lựa chọn nội dung học tập theo nhu cầu. 

Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Ở nhiều trường đại học hoạt động nghiên cứu được đề cao, nhưng cũng có không ít trường chỉ chú trọng vào đào tạo (nhất là các trường ngoài công lập) nên hoạt động nghiên cứu khoa học còn bị xem nhẹ.

Thưa ông, có ý kiến cho rằng, một trường đại học thì không thể thiếu vai trò NCKH và đã là giảng viên đại học thì không thể không tham gia nghiên cứu. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào? 

Ở các nước có nền giáo dục phát triển thường có 2 loại hình trường đại học là đại học nghiên cứu và đại học ứng dụng. Nếu đã là đại học nghiên cứu thì giảng viên không thể không là nhà khoa học.

Ở Việt Nam, mô hình trường đại học nghiên cứu và trường đại học ứng dụng chưa rõ ràng, nhưng phần lớn các trường đại học đều tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học. Các trường đại học đều coi NCKH là một trong 2 nhiệm vụ chính trị trọng tâm của nhà trường, vấn đề là giảng viên có ham mê nghiên cứu khoa học không?

Có cơ chế tạo động lực cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học không? Nếu giảng viên đại học mà không tham gia NCKH thì kiến thức sẽ không được mở mang, sức sáng tạo sẽ bị triệt tiêu, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, điều này không nên chút nào. 

Thực tế hiện nay cho thấy, các giảng viên trẻ rất ham mê làm khoa học, có điều là định hướng của nhà trường thế nào, chính sách khuyến khích ra sao để người ta gắn bó mà thôi.

Nhiều giảng viên trẻ trưởng thành từ hướng dẫn SV làm khoa học

Vậy theo ông, cần phải làm gì để hoạt động NCKH ở các trường ĐH được đẩy mạnh, giảng viên gắn bó và say mê hơn với hoạt động nghiên cứu?

Tôi cho rằng phải đổi mới triệt để cơ chế tài chính và cơ chế hoạt động KH&CN cả ở vĩ mô và ở các trường đại học. Cơ chế, chính sách tài chính hiện nay chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân NCKH. Thiếu cơ chế để giảng viên được độc lập nghiên cứu, phát huy tính sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ của pháp luật.

Đầu tư từ ngân sách của nhà nước cho hoạt động KH&CN còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, các trường ĐH - CĐ có tiềm lực KH&CN mạnh, có đội ngũ nhà khoa học đông đảo nhưng được đầu tư quá ít so với nhu cầu.

Các phòng thí nghiệm phục vụ NCKH mặc dù đã được chú ý đầu tư nhưng nhìn chung còn thiếu và lạc hậu. Thiếu biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho NCKH. 

Nếu khắc phục được những hạn chế trên thì chắc chắn hoạt động NCKH ở các trường sẽ hiệu quả hơn, hấp dẫn người làm khoa học hơn.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, ngoài hỗ trợ của nhà nước thì tự bản thân các nhà trường cũng phải nỗ lực khắc phục như chủ động tìm kiếm các hợp đồng đối tác bên ngoài, khuyến khích tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các đề tài khoa học trong và ngoài nước.

Đây là bài học kinh nghiệm mà nhiều trường đã thực hiện hiệu quả.

Liên kết với đối tác bên ngoài nhà trường, gắn NCKH với sản xuất kinh doanh, hướng tới NCKH theo các đơn hàng của doanh nghiệp, phải chăng là giải pháp hợp lý lúc này, thưa ông?

Đúng vậy, việc kết hợp NCKH và thực hiện NCKH theo đơn đặt hàng với nhà nước, doanh nghiệp cần phải được triển khai mạnh mẽ hơn nữa, được thực hiện dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp đặt ra nhu cầu, nhà trường xây dựng thành đề tài nghiên cứu, kết quả được chuyển giao cho đối tác đặt hàng. 

Có thể nói, từ những kết quả đã đạt được qua các hoạt động gắn kết NCKH và sản xuất kinh doanh, tôi đánh giá cao tính thực tiễn trong các hoạt động NCKH thời gian qua. Đúng là các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được triển khai mạnh hơn nữa.

Tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của xã hội, NCKH cần phải dự báo trước được thời cơ và đề ra kế hoạch hoạt động trong hội nhập quốc tế, phải tăng khả năng nghiên cứu theo đặt hàng của các doanh nghiệp.  

Xin cám ơn Vụ trưởng!

Ở một số trường, hoạt động NCKH chưa được coi là một trong hai nhiệm vụ trọng  tâm của trường, các đề tài NCKH triển khai trong các trường ĐH, CĐ còn mang tính chất đơn ngành, chưa tạo nên sản phẩm công nghệ cao mang dấu ấn của sự liên kết đa ngành, đa lĩnh vực. Giảng viên giảng dạy với số lượng giờ quá lớn, do vậy không còn thời gian để NCKH; Năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên còn yếu, thiếu hụt cán bộ khoa học đầu đàn GS, PGS, TS; tỷ lệ giảng viên có trình độ TS rất thấp.                              

 PGS.TS Tạ Đức Thịnh

Hiện nay, một số trường đại học lớn như ĐHQG Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Mỏ Địa chất, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội... đã triển khai gắn NCKH với sản xuất, kinh doanh rất tốt. Nhiều trường đại học đem sản phẩm của mình tham gia Hội chợ Công nghệ và Thiết bị (Techmart), đã thu về hàng trăm tỷ đồng và ký hàng trăm bản ghi nhớ và thoả thuận thực hiện sau Techmart.


Hiên Kiều (thực hiện)