Bản in

Điển hình

Thứ Tư, 14/12/2016 07:07 GMT+7

Nguyện trọn đời làm giáo viên cắm bản

Nguyện trọn đời làm giáo viên cắm bản

GD&TĐ - Chuyện thầy giáo Đinh Văn Hướng - Giáo viên Trường TH và THCS số 2 Trọng Hóa (huyện miền núi Minh Hóa, Quảng Bình) nguyện dành trọn cả cuộc đời cắm bản gieo chữ giữa đại ngàn Trường Sơn trở thành tấm gương mẫu mực cho các thế hệ cán bộ, giáo viên địa phương. 

Bao năm dạy học nơi miền biên viễn, thầy chỉ có một tâm niệm, con em đồng bào dân tộc nơi vùng cao biên giới đều được đến trường học chữ, lớn lên làm những việc có ích cho bản thân, gia đình và quê hương.

Dấn thân nơi “sơn cùng, thủy tận”

Một sáng trời đông lạnh giá, chúng tôi men theo con đường gập ghềnh, dốc dựng đứng đến với bản Ra Mai (xã Trọng Hóa) gặp thầy Đinh Văn Hướng - người gần như trọn đời gắn bó với các điểm trường heo hút nhất miền biên giới Việt - Lào.

Trong cái rét đầu mùa, thầy vẫn say sưa dạy cho các em từng con chữ, phép toán. Tiếng của thầy nhẹ nhàng ấm áp, tiếng học trò đọc bài vang vọng cả một góc biên cương.

Nói về chuyện của mình, thầy kể: Năm 1978, thầy tốt nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm Huế rồi về giảng dạy tại Trường cấp 1 Dân Hóa (nay là Trường TH và THCS Dân Hóa).

Dạy ở đây được 4 năm, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, thầy rời xa mái trường thân yêu và học trò lên đường làm nhiệm vụ. Đến năm 1986, thầy rời quân ngũ rồi trở về tiếp tục theo sự nghiệp trồng người nơi vùng biên giới này.

Thấy điều kiện học tập của các em nơi các bản, làng vùng biên giới còn khó khăn, thầy xung phong vào đứng chân dạy học. Điểm trường đầu tiên thầy đến là một trong những bản làng xa xôi, cách trở nhất - bản Rục ở xã Thượng Hóa.

Thầy nhớ lại: “Lúc tôi chọn lên đây, gia đình ai cũng phản đối. Bởi đồng bào Rục ở xã Thượng Hóa lúc đó là một vùng biệt lập hoàn toàn, nằm sâu trong núi, cách quê tôi khoảng 70 km đường rừng. Mỗi lần đến lớp phải chuẩn bị đồ từ sáng sớm, đi bộ nguyên một ngày trời mới vào tới”.

Đồng bào Rục ngày ấy chỉ có 9 hộ, với 32 nhân khẩu sống biệt lập trong các hang núi heo hút giữa đại ngàn Trường Sơn, trình độ dân trí thấp nên việc đưa cái chữ đến với trẻ em nơi đây quả là một điều hết sức khó khăn.

Thầy chia sẻ: “Để bám trụ được với bà con đồng bào Rục và dạy chữ cho trẻ em nơi đây, trước hết phải học tiếng của họ đã, phải sống như một người ở đây.

Rồi từ đó, mình làm quen với họ, gần gũi với họ mới có thể động viên được học sinh đến lớp được. Mình đã khó khăn, nhưng nhìn các em học sinh quần áo rách rưới, nhem nhuốc lại thấy thương!

Nhất là những lúc trời mưa lạnh thấy các em không có áo ấm để mặc đến lớp, đôi chân tím tái vì lạnh nên mình phải đốt lửa lên sưởi ấm cho các em rồi mới dạy được”.

Tận tâm cống hiến cho giáo dục vùng khó

Việc khó khăn nhất đối với mỗi giáo viên cắm bản nơi đây chính là ngôn ngữ giao tiếp. Để vượt qua rào cản này, thầy phải vừa dạy học trò, vừa nhờ trò dạy lại tiếng. Có khi hai bên chưa hiểu ngôn ngữ nhau, thầy phải dùng tất cả mọi cử chỉ, hành động để truyền dạy.

Thầy cho hay, ngày đó, đồng bào bản Rục còn hết sức khó khăn. Học sinh đến lớp không đủ sách vở. Bảng viết được cắt ra từ tấm ván nhỏ, phấn viết là than củi.

Học sinh lên lớp được đôi ba bữa là bỏ theo cha mẹ vào rừng, vào núi ở. Để níu chân học trò, phải vào tân rừng sâu xin gia đình để đưa các em ra.

Khó khăn chồng chất khó khăn, xa vợ xa con nhiều lúc muốn về nhà nhưng thời tiết mưa lũ nên có khi ba, bốn tháng thầy mới về thăm nhà một lần.

Thầy tâm sự: “Lúc đó, cơm không có ăn, mình phải vào rừng cùng dân bản để đào từng củ mài, củ nu, hái từng bó rau rừng để ăn qua ngày.

Căn bệnh sốt rét thường xuyên hành hạ như muốn đánh ngục ý chí, niềm tin của mình. Nhưng cứ nghĩ đến lũ trẻ nơi đây, khiến tôi càng quyết tâm bám trường, bám lớp dạy chữ cho các em”.

Rồi cứ thế suốt hơn 27 năm ròng rã, thầy trở thành người giáo viên cắm bản gieo chữ ở đồng bào Rục. Đến năm 2013, thầy có quyết định chuyển về công tác tại Trường TH và THCS số 2 Trọng Hóa.

Ngày thầy rời bản, rồi điểm trường, người dân, học sinh trong bản đã khóc đòi thầy ở lại, không cho đi. Thầy kể: “Lúc đó nhiều người còn làm đơn gửi lên Phòng Giáo dục và Đào tạo để xin cho mình ở lại, giải thích mãi với họ rằng: “Đây là công việc của Nhà nước! Thầy lên đó để dạy cho nhiều em khó khăn hơn, khi nào có thời gian tôi lại về với bà con”. Lúc đó, họ mới đồng ý cho tôi đi”.

Với hơn 30 năm tuổi nghề, thầy không thể nhớ hết đôi chân của mình đã vượt bao nhiêu đèo, lội bao nhiêu con suối, đến bao nhiêu hộ dân để vận động học sinh tới lớp.

Giờ đây khi chuẩn bị bước qua tuổi 58, nhưng thầy Đinh Văn Hướng vẫn ngày đêm miệt mài bám bản, bám làng, dạy học nơi miền biên viễn. Trong thầy vẫn không nguôi tấm lòng nhiệt huyết với nghề, với sự nghiệp giáo dục vùng khó.

Đại Khải – Xuân Vương