Bản in

Giáo dục

Thứ Sáu, 11/8/2017 07:33

Hiểu về trách nhiệm giải trình trong hành trình tự chủ đại học: cho ai, về cái gì và bằng cách nào?

Ảnh minh họa, (theo AUM Việt Nam) Ảnh minh họa, (theo AUM Việt Nam)

GD&TĐ - Trong bất kỳ xã hội hay nền kinh tế nào, mục tiêu tối thượng của giáo dục đại học là nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đóng góp vào việc phát triển kinh tế, khoahọc, công nghệ, xã hội của quốc gia. Đặc biệt, trong bối cảnh “nền kinh tế tri thức toàn cầu” ngày nay, mục tiêu đó càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Giá trị cốt lõi của giáo dục đại học nằm ở hai chữ “chất lượng”.

Ngày nay, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học, xu hướng chung trên thế giới là trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục. Qua đó, giúp các trường nâng cao trách nhiệm, cải thiện các phương pháp quản trị đại học và phát huy các thế mạnh của chính mình, và tăng cường ưu thế cạnh tranh.

Tuy nhiên hiện nay, khái niệm về “tự chủ đại học” (TCĐH) chưa được các lãnh đạo cũng như cán bộ giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam hiểu rõ. Nhiều cá nhân, thậm chí còn cho rằng tự chủ có nghĩa phải tự lo về tài chính, và tự do thực hiện những gì cơ sở mình muốn; đồng thời, ít ai nắm rõ về các khái niệm như “chỉ số hoạt động”, “cam kết hoạt động” hay đặc biệt là “trách nhiệm giải trình” (accountability - TNGT).

Trên thực tế, TCĐH và TNGT luôn gắn liền, song hành với nhau, quyền tự chủ càng cao, trách nhiệm giải trình càng lớn.

Trách nhiệm giải trình gì?

Trong nghiên cứu so sánh đối chiếu về hệ thống kiểm định chất lượng các trường đại học giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, Trow (1996) đã liên hệ TNGT với nghĩa vụ báo cáo, giải thích, biện minh, trả lời các câu hỏi về cách sử dụng các nguồn lực ra sao và đạt hiệu quả như thế nào.

TNGT có nhiều hình thức khác nhau trong các xã hội khác nhau, liên quan đến các hành động và các hình thức hỗ trợ khác nhau.Nói một cách đơn giản và ngắn gọn, TNGT, theo định nghĩa của Romzek (2002), là khả năng có thể trả lời cho các hoạt động, đây là định nghĩa được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu giáo dục hiện nay. Những vấn đề cần giải trình liên quan tới hiệu suất, hiệu quả và đánh giá các hoạt động của cơ sở giáo dục.

Theo đó, TNGT trong giáo dục đại học bao gồm các yếu tố như sử dụng hợp lý nguồn lực, cung cấp được các bằng chứng cụ thể và xác đáng, đánh giá bằng chứng, chi phí và hiệu quả, và quá trình nâng cao giáo dục. TNGT nhằm đảm bảo rằng những hoạt động của nhà trường đều hướng tới việc đạt những kết quả đã cam kết từ trước.

Những câu hỏi cơ bản liên quan đến TNGT là: ai sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước ai, vì cái gì, thông qua hình thức nào, và với những hậu quả gì.

Trách nhiệm giải trình với ai?

Các nhà khoa học giáo dục đã xác định rõ ba nhóm đối tượng chính mà các cơ sở giáo dục đại học cần có TNGT, đó là: nhóm sinh viên tương lai và phụ huynh, nhóm cán bộ giảng dạy và nhân viên trong trường, và nhóm quản lý cấp cao hơn như các nhà hoạch định chính sách hoặc các cơ quan tài trợ.

Các cơ sở giáo dục đại học có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của chính phủ cũng như xã hội về các vấn đề như: Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho trường có được sử dụng hiệu quả hay không? Nó có đáp ứng được nhu cầu của học sinh, sinh viên một cách tốt nhất không? Hay những công trình nghiên cứu của nhà trường có đóng góp đáng kể cho xã hội hay không?

Trong quá trình TCĐH, Bộ Giáo Dục không còn đóng vai trò quản lý và can thiệp trực tiếp vào hoạt động của nhà trường nữa, thay vào đó, chỉ giám sát từ xa. Nhà trường có trách nhiệm báo cáo hoạt động tới Bộ thông qua những cơ quan đánh giá bên ngoài.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành lập các cơ quan đánh giá, có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.  Ví dụ, ở Úc, tổ chức Cơ quan Chất lượng và Tiêu chuẩn Giáo dục Đại học (TEQSA)  năm 2011 chịu trách nhiệm về đánh giá hoạt động  của 173 trường đại học trong nước.

Singapore có Bộ phận đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (HEQAS) giám sát chín trường đại học công lập. Hong-Kong, Nhật Bản hay nhiều quốc gia khác ở Châu Âu đều đã thành lập các cơ quan đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) quốc gia.

Hiện nay, chủ yếu các trường đại học ở Việt Nam mới chỉ có thói quen giải trình với các cấp cao như các cơ quan kiểm định chất lượng nội bộ và bên ngoài, hoặc báo cáo với Bộ Giáo Dục.

Cần phân biệt rõ, TNGT không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa “chịu trách nhiệm”, mà còn là “công khai, minh bạch thông tin”, và giải trình trách nhiệm bằng những bằng chứng cụ thể, định tính, định lượng về hoạt động của nhà trường.

Ngoài ra, nhà trường còn cần hướng TNGT tới các nhóm đối tượng khác như cán bộ giảng dạy, những người đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục; và nhóm sinh viên tương lai và phụ huynh, những người sẽ đóng góp vào ngân sách hoạt động của trường. Đây không chỉ là vấn đề về cơ chế hoạt động, mà còn là một văn hoá, văn hoá về minh bạch thông tin tới các đối tượng liên quan.

Trách nhiệm giải trình về điều gì?

Nội dung giải trình thường tập trung vào ba vấn đề chính: kết quả học tập, chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, hoạt động tài chính.

Những thông tin về kết quả học tập bao gồm tỉ lệ tốt nghiệp, thời gian hoàn thành chương trình học, tỉ lệ việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp. Đây chính là thông tin mà các sinh viên triển vọng và phụ huynh quan tâm nhất khi quyết định chọn trường đại học, bên cạnh các thông tin về học phí, cơ sở vật chất và môi trường học tập.

Các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm công bố ra công chúng những thông tin này một cách rõ ràng và cụ thể nhất.

Giải trình về chất lượng giảng dạy và nghiên cứu đóng vai trò tối quan trọng trong việc xác định vị thế của trường trong hệ thống giáo dục trong nước và quốc tế. Giải trình về phần này được thực hiện dựa trên những đánh giá về chất lượng học và dạy, về chương trình giảng dạy, về chất lượng của đội ngũ giảng dạy và về chất lượng nghiên cứu.

Các trường đại học công lập được nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước, được xây dựng từ tiền thuế của nhân dân hoặc từ các nguồn tài trợ. Do đó, trường đại học công lập có nghĩa vụ giải trình trước các cơ quan quản lý cấp cao hơn v.v., đồng thời trước cả công chúng, những người đã đóng thuế để cấp cho các hoạt động của nhà trường về việc sử dụng những nguồn ngân sách này.

TNGTvề tài chính nhằm đảm bảo rằng nhà trường duy trì các nguyên tắc hoạt động của mình đúng với những gì đã hứa hẹn, nguồn ngân sách công được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và xứng đáng cho sự phát triển của xã hội và nâng cao đời sống của người dân.

Ngoài ra cần đảm bảo rằng quỹ được phân phối một cách công bằng, tiếp cận người sử dụng hoặc người thụ hưởng dự kiến và được sử dụng đúng theo ngân sách. Việc thiếu TNGT về tài chính dẫn đến rò rỉ, quản lý tài nguyên và sử dụng không hiệu quả dẫn tới ảnh hưởng đến chất lượng học tập.

Thực hiện trách nhiệm giải trình như thế nào?

TNGT được thực hiện qua những hình thức đánh giáđịnh lượng và định tính để đo đạc hiệu quả hoạt động, trong đó những đánh giá định lượng đóng vai trò dẫn đầu và mang tính quyết định. Tại nhiều quốc gia, những kết quả đánh giá này ảnh hưởng trực tiếp tới những quyết định liên quan tới ngân sách hoạt động, chính sách và vị thế của các trường đại học.

Vương quốc Anh là một trong những quốc gia đầu tiên thực hiện việc đánh giá giáo dục đại học, thông qua việc cải cách hình thức quản trị cũng như cơ chế ngân sách và trách nhiệm giải trình.

Cơ quan đảm bảo chất lượng đại học (QAA) được thành lập năm 1997 có nhiệm vụ xây dựng tiêu chí đánh giá và tổ chức đánh giá các trường đại học. Điều nay đã thay đổi cơ chế trợ cấp cho các trường từ bao cấp sang đăng ký được trợ cấp dựa trên hiệu quả hoạt động.

Trong quá trình tự chủ hoá các trường đại học công lập, Bộ Giáo Dục Singapore đã xây dựng một bộ Khung đảm bảo chất lượng cho các trường đại học Singapore (QAFU)  nhằm đảm bảo TNGT cho việc sử dụng ngân sách công đồng thời nâng cao chất lượng tổng thể trong hệ thống giáo dục đại học.

Các trường đại học được trao quyền tự chủ lựa chọn những tiêu chí trong bộ khung này để thực hiện, bao gồm năm mảng lớn như quản trị, quản lý, giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ.

Đồng thời, các trường đại học thụ hưởng quyền tự chủ còn được yêu cầu thiết lập các chỉ số hoạt động của mình cho mục tiêu tự thực hiện thể chế và nâng cao chất lượng, đồng thời đáp ứng các yêu cầu cần thiết về TNGT bên ngoài.

Đánh giá về hoạt động của trường dựa trên những tiêu chí đã chọn sẽ quyết định nguồn ngân sách trường được cấp trong vòng hoạt động tiếp theo.

Ở Hồng Kông và Trung Quốc, giải trình về nghiên cứu liên quan trực tiếp tới phần thưởng tài chính cho các cơ sở giáo dục hoặc các giảng viên, nhà nghiên cứu.

Trung Quốc thậm chí còn có hình thức trợ cấp chức vụ đối với hợp đồng hoạt động có cam kết số lượng công trình xuất bản hàng năm và nguy cơ bị giảm lương nếu không đạt được chỉ tiêu đã đề ra.

Trong bối cảnh bắt đầu tiến hành phân quyền tự chủ tại các trường đại học ở Việt Nam như hiện nay, cần nhanh chóng xây dựng những bộ chỉ số đánh giá cụ thể, chi tiết nhưng đơn giản, dễ sử dụng nhằm đạt được những kết quả đo đạc hoạt động chính xác và hiệu quả nhất.

Các chỉ số hoạt động này có số lượng lớn và thường bao gồm nhiều khía cạnh và liên quan đến nhiều cấp độ khác nhau.Bên cạnh đó, nên có những bộ chỉ số đánh giá hoạt động khác nhau cho những nhóm trường khác nhau.

Các trường đại học cũng cần tiến hành thiết lập bộ chỉ số đánh giá hoạt động riêng của trường mình nhằm xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra của nhà trường, đồng thời đo đạc một cách chính xác hiệu suất hoạt động trong quá trình thực hiện những mục tiêu đó.

Ngoài ra, cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên dữ liệu đầu vào (input) như hiện nay của Bộ Giáo Dục cũng nên được thay đổi dựa trên dữ liệu đầu ra (output) được thể hiện qua những báo cáo giải trình của các trường. Có như vậy, mới tăng cường hiệu suất cũng như trách nhiệm nâng cao chất lượng của các đơn vị.

Yếu tố cốt lõi trong việc thực hiện TNGT là đảm bảo tính minh bạch, trong việc đánh giá hoạt động thông qua các phương tiện đánh giá hiệu quả và rõ ràng, trong các hoạt động về tài chính trong sạch và liêm chính, v.v.

Khi hoạt động của các tổ chức không minh bạch, nó có thể làm tăng chi phí giao dịch, giảm hiệu quả của các dịch vụ công, làm biến dạng quá trình ra quyết định và làm giảm giá trị xã hội. Một hệ thống minh bạch thúc đẩy sự toàn vẹn và hành vi đạo đức của cán bộ, sẽ cải thiện hoạt động của hệ thống giáo dục.

Do đó, thay vì chạy đua thành tích, chú trọng tới số lượng hơn chất lượng, một lần nữa, xin nhấn mạnh vai trò thiết yếu của các dụng cụ đo đạc, kiểm tra và đánh giá các hoạt động dạy và học, hoạt động cơ cấu, tổ chức và tài chính tại các trường đại học.

Chủ trương “ba công khai” của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam chính là một nỗ lực nhằm hướng tới tính minh bạch của TNGT. Nhà trường có trách nhiệm công khai về đội ngũ, về nguồn lực, về mức học phí, báo cáo thường niên và kết quả kiểm định trên trang web của các trường, công lập cũng như tư thục.

Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng, mục đích cuối cùng của TNGT không phải là để chứng minh mà là để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Lời kết

Trong dòng chảy quản trị hoá (managerialism) các trường đại học như hiện nay, tăng quyền tự chủ và TNGT cho các trường là một xu thế tất yếu.

Trên thế giới nói chung cũng như khu vực châu Á nói riêng, những chính sách về TNGT đã cho thấy hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu cũng như quản trị.

Hoạt động, tính minh bạch và “văn hoá bằng chứng” được xem như là ba thành phần chính làm nên giá trị của TNGT (Leveille, 2005).  Để hoà nhập vào dòng chảy của nền kinh tế tri thức hiện nay,  muốn nâng cao chất lượng giáo dục và vị thế trên bảng xếp hạng khu vực và quốc tế, bắt buộc chúng ta phải tuân thủ theo những quy tắc quốc tế trong “trò chơi” toàn cầu đầy thách thức này.

 

Tài liệu tham khảo

1.      Leveille, D.E (2005). An Emerging View on Accountability in American Higher Education. Research & Occasional Paper Series: CSHE.8.05.

2.      Romzek, B. (2000). ‘Dynamics of Public Sector Accountability in an Era of Reform’. International Review of Administrative Sciences, 66, 21-44.

3.      Trow, M. (1996). ‘Trust, Markets and Accountability in Higher Education: A Comparative Perspective’. Higher Education Policy, 9 (4), 309-324.



[*]Nghiêncứusinhtrường ĐH Nantes, cộnghoàPháp, thànhviênnhómnghiêncứuTựchủĐạihọc, HộiKhoahọcvàChuyêngiaViệt Nam (AVSE)

 

Ngô Thị Phương Lê