Bản in

Địa phương

Thứ Ba, 21/7/2009 18:38 GMT+7

Sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục - Đòi hỏi cấp bách

Sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục - Đòi hỏi cấp bách

(GD&TĐ) Ngày 14-15/7/2008 tại TP.HCM, Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên – Thiếu niên & Nhi đồng (UBVH-GD-TN-TN&NĐ) của Quốc hội đã tổ chức Hội nghị góp ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (GD) năm 2005. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD năm 2005, được Ban soạn thảo đưa ra tại Hội nghị này là dự thảo lần thứ 4, hoàn thành ngày 01/07/2009. Báo GD & TĐ xin lược ghi một số ý kiến đáng chú ý tại Hội nghị.

(GD&TĐ) - Ngày 14-15/7/2008 tại TP.HCM, Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên – Thiếu niên & Nhi đồng (UBVH-GD-TN-TN&NĐ) của Quốc hội đã tổ chức Hội nghị góp ý kiến về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (GD) năm 2005. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD năm 2005, được Ban soạn thảo đưa ra tại Hội nghị này là dự thảo lần thứ 4, hoàn thành ngày 01/07/2009. Báo GD & TĐ Online xin lược ghi một số ý kiến đáng chú ý tại Hội nghị.
GS. Đào Trọng Thi phát biểu định hướng Hội nghị
GS. Đào Trọng Thi phát biểu tại Hội nghị
 
* GS. VS Đào Trọng Thi (Chủ nhiệm UBVH-GD-TN-TN&NĐ của Quốc hội):

Có 11 vấn đề, nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo Luật GD cụ thể gồm: Về phổ cập GD; Về giáo trình GD nghề nghiệp và giáo trình GDĐH; Về thời gian đào tạo tiến sĩ; Về đào tạo và cấp văn bản trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở một số chuyên ngành đặc biệt; Về thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập trường ĐH; Về tên gọi của bằng tốt nghiệp ĐH; Về thành lập nhà trường; Về công khai tiêu chuẩn chất lượng GD; Về bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý (CBQL) GD; Về phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và CBQL GD; Về việc miễn học phí cho học sinh, sinh viên (HS, SV) sư phạm, người theo học các khóa nghiệp vụ sư phạm. Các đại biểu cũng có thể góp ý kiến về những nội dung khác, cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung trong Luật GD lần này… Việc sửa đổi, bổ sung Luật phải đảm bảo tính dự báo, phù hợp với xu thế phát triển của những quan hệ xã hội; tránh việc sửa đổi, bảo đảm Luật nhiều lần. Phạm vi điều chỉnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD nên tập trung vào những vấn đề thật bức xúc mà thực tiễn đòi hỏi, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động GD, nâng cao hiệu lực QLGD. Những vấn đề mới chưa được thực tiễn kiểm nghiệm, nhất là những vấn đề thuộc về quan điểm phát triển GD trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu công phu, trên cơ sở tổng kết đánh giá thật đầy đủ việc thi hành Luật GD…. Thường trực UBVH-GD-TN-TN&NĐ của Quốc hội đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu để có thể chọn lọc, đưa thêm một số nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Nhà giáoLuật GDĐH đã được thực tiễn kiểm nghiệm vào Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD lần này…

* TS. Nguyễn Vinh Hiển (Thứ trưởng Bộ GD & ĐT – đại diện Ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD năm 2005):
 
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển trình bày ý kiến tại Hội nghị
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển trình bày ý kiến tại Hội nghị

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD theo các quan điểm chỉ đạo về GD đã được xác định trong Nghị quyết TW Đảng lần thứ 2 – khóa X; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; Thông báo kết luận của Bộ Chính trị số 242/TB-TW ngày 15/4/2009 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 – khóa VIII về phương hướng phát triển GD & ĐT đến năm 2020. Mới đây là Nghị quyết Quốc hội khóa XII – kỳ họp thứ 5 – ngày 19/6/2009 về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong GD & ĐT từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014-2015. Một số nội dung trong Nghị quyết này cần được thể chế trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD như : phổ cập GD mầm non 5 tuổi; chính sách đối với nhà giáo và CB QLGD. Trong bối cảnh Việt Nam mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc sửa đổi, bổ sung Luật GD nhằm phù hợp với các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD là cần thiết…. Luật sửa đổi, bổ sung Luật GD lần này có 11 vấn đề, liên quan đến 13 điều trong tổng số 120 điều của Luật GD năm 2005. Việc sửa đổi, bổ sung Luật giữ nguyên kết cấu, không tăng thêm điều, không bỏ điều và không sửa tên chương.

Cụ thể: bổ sung quy định “phổ cập GD mầm non 5 tuổi” vào khoản 1 – Điều 11 Luật GD. Về giáo trình GD nghề nghiệp và giáo trình GD ĐH: khoản 2 – Điều 35 cần sửa đổi, bổ sung trách nhiệm phải “bảo đảm có đủ giáo trình để giảng dạy, học tập” của thủ trưởng cơ sở GD nghề nghiệp. Bổ sung quy định: “Bộ trưởng Bộ GD & ĐT; thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề có trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt các giáo trình sử dụng chung cho các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN); các cơ sở dạy nghề”.

Về thời gian đào tạo tiến sĩ: khoản 4 – Điều 38 cần sửa đổi, bổ sung như sau: “Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong 4 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp ĐH; trong 3 năm học đối với người có bằng thạc sĩ. Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT”…

Điều 50 “Thành lập nhà trường” cần được sửa đổi, bổ sung như sau:  “1/ Điều kiện thành lập nhà trường: Có đề án đầu tư thành lập trường phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; có phương án tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ nhà giáo; xác định rõ mục tiêu, nội dung, chương trình, quy mô đào tạo, nguồn vốn xây dựng trường, kế hoạch và lộ trình đầu tư phát triển.

Sau khi đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, tổ chức, cá nhân có đề án thành lập trường có đủ điều kiện về đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ CBQL và nhà giáo bảo đảm đáp ứng yêu cầu hoạt động của nhà trường, thực hiện mục tiêu GD; có kế hoạch dài hạn và ngắn hạn để xây dựng và phát triển nhà trường thì được thành lập hoặc cho phép thành lập.

Sau khi có quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập nhà trường, nhà trường có quy chế tổ chức và hoạt động, có chương trình GD phù hợp với mục tiêu đào tạo, có đội ngũ CBQL và nhà giáo đạt tiêu chuẩn, đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình GD, có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị để thực hiện chương trình GD và phục vụ giảng dạy, học tập thì được đăng ký hoạt động.

Người có thẩm quyền quy định tại Điều 51 của Luật này, căn cứ nhu cầu phát triển GD, ra quyết định thành lập đối với trường công lập hoặc quyết định cho phép thành lập đối với trường dân lập, trường tư thục.

Điểm d khoản 1 Điều 51 được sửa đổi bổ sung như sau:

“Bộ trưởng Bộ GD & ĐT quyết định đối với trường CĐ, trường ĐH, trường dự bị ĐH; Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quyết định đối với trường CĐ nghề”.

Khoản 1 Điều 58 được sửa đổi bổ sung như sau:

“Công bố công khai mục tiêu, chương trình GD, nguồn lực và tài chính, kết quả kiểm định chất lượng GD và hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường, tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động GD khác theo mục tiêu, chương trình GD; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền”.

Khoản 2 Điều 69 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Viện nghiên cứu khoa học, khi được Bộ trưởng Bộ GD & ĐT giao nhiệm vụ phối hợp với trường ĐH đào tạo trình độ thạc sĩ có trách nhiệm ký hợp đồng với trường ĐH để tổ chức đào tạo”.

Tên của Mục 3 Chương IV được sửa đổi, bổ sung như sau: Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý GD”

Điều 80 “Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ” được sửa đổi, bổ sung như sau:

Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo, CBQLGD về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ, chuẩn hóa nhà giáo và nâng cao trình độ CBQLGD.

Nhà giáo, CBQLGD được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ.

Điều 81 “Tiền lương, phụ cấp” được sửa đổi, bổ sung như sau:

Nhà giáo được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề và các phụ cấp khác; thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và CBQLGD.  Chính phủ quy định về chế độ tiền lương và phụ cấp đối với nhà giáo và CBQLGD”.

Khoản 3 Điều 89 được sửa đổi, bổ sung như sau:

HS, SV sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm được hưởng tín dụng ưu đãi; được ưu tiên trong việc xét cấp học bổng, trợ cấp xã hội theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; khi ra trường nếu làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong các cơ sở GD quy định tại các Điều 25, 30, 36, 42, 49, 69 và Mục 3 Chương III của Luật GD trong thời hạn quy định thì không phải hoàn trả khoản tín dụng đã sử dụng để chi trả học phí.

Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc HS, SV sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm được hưởng tín dụng ưu đãi, khi ra trường nếu làm nhiệm vụ giảng dạy, GD thì không phải hoàn trả khoản tín dụng đã sử dụng để chi trả học phí”.

Điều 2. Bãi bỏ quy định “Bằng tốt nghiệp đại học của ngành kỹ thuật được gọi là bằng kỹ sư, của ngành kiến trúc là bằng kiến trúc sư; của ngành y, dược là bằng bác sĩ, bằng dược sĩ, bằng cử nhân; của các ngành còn lại là bằng tốt nghiệp ĐH” tại khoản 2 Điều 43; khoản 6 Điều 43 và điểm d khoản 1 Điều 51 của Luật GD.

* Ông Nguyễn Hữu Diễn (nguyên quyền Cục trưởng Cục Nhà giáo & CBQLGD – Bộ GD & ĐT):

Hiện nay, các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến giáo viên (GV), đến các hoạt động dạy học của nhà giáo, chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật GD; Luật cán bộ công chức và một số văn bản dưới Luật nhưng còn mang tính tình thế, không nằm trong bối cảnh thống nhất, thiếu sự tiếp cận nhất quán, thiếu tương thích, chưa phù hợp với yêu cầu mới của sự phát triển GD… Tôi đề nghị đổi tên Điều 78 thành Điều 78 mới với các khoản: “Cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhà giáo và CBQLGD do Nhà nước thành lập để đào tạo bồi dưỡng nhà giáo và CBQLGD…”. Điều 98 nên đổi là: “Điều 98 Quỹ Khuyến học; Quỹ Bảo trợ GD; Quỹ Khuyến khích phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD…”. Theo các Nghị định số 116; số 121 và số 132 của Chính phủ thì: “Bộ GD & ĐT thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn về quản lý ngạch viên chức chuyên ngành GD & ĐT; Ban hành cơ cấu ngạch viên chức chuyên ngành GD & ĐT và Quy chế đánh giá viên chức. Ban hành định mức biên chế sự nghiệp thuộc lĩnh vực GD & ĐT sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ”. Những nhiệm vụ này theo phân cấp cũ thuộc thẩm quyền của Bộ Nội vụ, nay do Bộ GD & ĐT đảm nhiệm. Do đó nội dung này cần được đưa vào Luật GD mới… Đề nghị bổ sung vào Luật GD trước Điều 81 nội dung: “Thang, bậc lương của nhà giáo là một trong những thang, bậc lương cao nhất trong hệ thống thang, bậc lương hành chính sự nghiệp của Nhà nước”… Luật GD hiện hành không có điều khoản nào nói về vấn đề ngạch, chức danh của nhà giáo, cần phải bổ sung.

* PGS TS Thái Bá Cần: (Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM):

Theo Luật GD hiện hành, GD nghề nghiệp gồm TCCN và dạy nghề. Hiện nay hai mảng này do hai Bộ quản lý và có những chủ trương chiến lược khác nhau, nên bậc học này không có sự thống nhất, tạo ra sự rối rắm trong hệ thống GD quốc dân cần xem xét lại… Nên xem lại việc cấp học bổng khuyến khích học tập dàn trải như hiện nay (khoản 1 – Điều 89 của Luật GD 2005). Đề nghị dành những học bổng có giá trị cấp cho SV xuất sắc, phần ngân sách còn lại nên chuyển thành học bổng chính sách, để hỗ trợ những SV nghèo thực sự có nhu cầu… Luật GD hiện hành quy định CĐ nghề thuộc GD nghề nghiệp (Điều 36) là trái với quy định trong Điều 4 về Hệ thống GD quốc dân…

* GS Phạm Phụ (nguyên Ủy viên Hội đồng GD Quốc gia):

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật GD lần này, còn thiếu một số Điều – khoản khung định hướng cho những vấn đề đang gay cấn như: chương trình trong GD phổ thông; quản trị và tài chính trong GDĐH; toàn cầu hóa trong GD… Về phương thức GD trong Hệ thống GD quốc dân (Điều 4), cần bổ sung thêm phương thức tạm gọi là “không theo nghi thức (informal), có thể không cần đến trường lớp… Trên thực tế, phần lớn các cơ sở GD dân lập và tư thục ở VN hiện nay đều có phân chia lợi nhuận. Trong khi Điều 67 Luật GD hiện hành ghi rõ: “Tài sản, tài chính của trường dân lập thuộc sở hữu của cộng đồng dân cư ở cơ sở”(?). Quy chế trường tư thục mới ban hành còn viết: “Cơ sở GD không vì lợi nhuận gọi là “Cơ sở cổ phần”” (?); một văn bản pháp luật khác cũng hiểu nhầm về “không – vì – lợi – nhuận” v.v… Có thể xem đây là những “mảng mờ” nhầm lẫn rất nguy hiểm, gây ra nguy cơ “dỏm, giả”; dễ gây ra tiêu cực làm hạn chế sự phát triển của GD ngoài công lập… Dự thảo Luật GD lần này đề nghị quy định các nhà trường khi mới thành lập phải “có đủ điều kiện về đất đai; cơ sở vật chất; thiết bị; tài chính; tổ chức bộ máy; đội ngũ CBQLGD và GV”. Quy định là cần thiết nhưng có xa rời thực tế không? Bởi mới thành lập, thiếu thốn trăm bề là khó tránh khỏi…. Luật GD năm 2005 phần “chế tài” rất mờ nhạt. Ngày 30/7/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Điều lệ trường ĐH” trong đó có Điều 30 quy định về việc thành lập “Hội đồng trường”. Đến nay, về cơ bản Điều 30 này chưa được thực thi. “Chế tài” sao đây ? Nhiều nước đang xem VN là “thị trường GD béo bở”, ta đang dành riêng “phân khúc thị trường” GD có học phí cao cho các nhà đầu tư GD của nước ngoài. Làm sao để “chế tài” bằng luật GD?

* PGS TS Lương Ngọc Toản (nguyên Phó chủ nhiệm UBVH-GD-TN-TN & NĐ của Quốc hội):

Luật GD sửa đổi, bổ sung lần này, cần quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của Bộ GD & ĐT về quản lý tổ chức nhân sự và quản lý tài chính, tránh việc phân cấp không rõ ràng, thiếu minh bạch và không rõ trách nhiệm như lâu nay… Bên cạnh đó cần quy định rõ việc phân cấp quản lý trong nội bộ ngành GD & ĐT. Bộ GD & ĐT không nên ôm lấy tất cả vấn đề xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng… Sau Đại hội Đảng CSVN lần thứ XI năm 2011, chắc sẽ có sự sắp xếp lại và phân công lại nhiệm vụ của các Bộ, cho nên việc ban hành mới Luật GD sẽ là cần thiết. Nên chăng lần này chỉ tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Dự thảo Luật GD đề nghị. Còn việc sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản và toàn diện Luật GD, đề nghị xem xét sau…

* TS Bùi Xuân Hải (Trường ĐH Luật TP.HCM):

Luật GD mới cần phân biệt rõ sự giống và khác nhau giữa “CBQLGD” với “CB công chức” được quy định tại Luật Cán bộ công chức. Cần quy định rõ các cơ sở đào tạo ngoài công lập là hoạt động có tính chất kinh tế, có thu nhập và phải chịu sự điều chỉnh của Luật thuế thu nhập. Luật GD mới cần quy định rõ trường hợp tư nhân muốn đầu tư vào cơ sở GD công lập?… Theo tôi, đào tạo tiến sĩ nếu toàn thời gian phải là 3 năm, bán thời gian là 4-6 năm, phải đưa vấn đề vào Luật GD…

* GS TS Nguyễn Đình Hương (nguyên Phó chủ nhiệm UBVH-GD-TN-TN&NĐ của Quốc hội):

Theo tôi, Luật GD mới cần đơn giản hóa “Hệ thống GD quốc dân”, hiện nay “Hệ thống” này khá phức tạp, nhất là hệ thống GD nghề nghiệp, CĐ; ĐH; giữa TCCN với TC nghề; CĐ; ĐH với CĐ nghề. Sự phân luồng giữa GD phổ thông và GD nghề nghiệp chưa ổn, nhất là giữa THCS với TCCN chưa hấp dẫn với người học, nên đa số HS gắng học hết THPT, nhưng lối vào ĐH, CĐ lại hạn hẹp, gây tốn kém lãng phí cho người học, kém hiệu quả cho xã hội. Theo tôi, Luật GD mới cần rút ngắn thời gian đào tạo trong GD nghề nghiệp cũng như GD CĐ, ĐH. Xem xét điều chỉnh những bất cập như chương trình đào tạo chưa hợp lý, nội dung trùng lắp, lý thuyết nhiều, thực hành ít. Các cơ sở GD, hệ thống nhà trường đang “trăm hoa đua nở”, rất lãng phí nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của xã hội. Luật GD cần phải “chế tài” bức xúc này. Nên sớm quy định việc quản lý Nhà nước về GD & ĐT là do Bộ GD & ĐT chịu trách nhiệm chính với trách nhiệm phối hợp hỗ trợ của các Bộ, ngành và các địa phương. Đề nghị các Bộ chuyên ngành không nên là Bộ chủ quản của các nhà trường….

Đinh Lê Yên
(lược ghi)

Gửi ý kiến bạn đọc

Refresh