Chính trị

Chủ Nhật, 30/8/2009 17:32 GMT+7

Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta

Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta

(GD&TĐ) - Đúng như dự đoán của Đảng ta, những mâu thuẫn đối kháng ngày càng gay gắt giữa Nhật và Pháp ở Đông Dương và tình thế khốn đốn của Nhật ở Thái Bình Dương đã buộc phát xít Nhật phải làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương và ngăn ngừa mối hậu hoạ sau lưng khi quân Đồng minh tiến vào
Ảnh TL
Ảnh TL

Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật nổ súng đánh Pháp cùng một lúc trên toàn cõi Đông Dương. Chưa đầy một ngày sau, thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng Nhật.Đánh giá về sự kiện này, đồng chí Hồ Chí Minh nói: "Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật"

Ngay trong đêm 9-3-1945, giữa lúc Nhật nổ súng đánh Pháp, hội nghị mở rộng của Ban thường vụ Trung ương Đảng họp ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh chủ trì. Hội nghị nhận định cuộc đảo chính của Nhật hất cẳng Pháp đã nổ ra, sự thất bại của quân đội Pháp, sự thắng lợi tạm thời của quân đội Nhật, nhưng Nhật không thể củng cố được chính quyền của chúng và chính quyền bù nhìn tay sai. Về nguyên nhân của cuộc đảo chính, Hội nghị cho rằng: "Hai con chó không thể ăn chung một miếng mồi béo như Đông Dương...Nhật phải hạ Pháp để trừ cái hoạ bị Pháp đánh sau lưng khi quân Đồng minh đổ bộ".


Hội nghị nhận định sau cuộc đảo chính này đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính, cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương. Vì vậy, khẩu hiệu đánh đuổi phát xít Nhật-Pháp trước đây phải được thay bằng khẩu hiệu Đánh đuổi phát xít Nhật. Hội nghị nêu khẩu hiệu "Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương" chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. Hội nghị chủ trương: "Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa".

Hội nghị quyết định thay đổi mọi hình thức tuyên truyền cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa nhằm động viên mau chóng quần chúng lên mặt trận cách mạng, tập dượt cho quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Nội dung của Hội nghị được trình bày trong Chỉ thị lịch sử ngày 12 tháng 3 năm 1945 "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị quan trọng này thể hiện rõ sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, kịp thời và sáng tạo của Đảng. Nó là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng trong cao trào chống Nhật, cứu nước dẫn tới thắng lợi trực tiếp của tổng khởi nghĩa tháng Tám.

Nắm vững phương hướng và biện pháp đúng đắn, đồng thời triệt để phát huy thời cơ thuận lợi do cuộc đảo chính của Nhật đưa lại, Đảng đã phát động cao trào chống Nhật, cứu nước trong cả nước. Phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần diễn ra rất sôi nổi ở vùng thượng du, trung du miền Bắc. Phong trào đấu tranh chính trị, xây dựng lực lượng chính trị và xây dựng lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ ở vùng đồng bằng nông thôn và các thành thị.

Để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, ngày 15-4-1945 Ban thường vụ Trung ương Đảng triệu tập hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ. Hội nghị họp ở Hiệp Hoà, Bắc Giang, do đồng chí Trường Chinh chủ trì, nhằm giải quyết cụ thể những vấn đề quân sự đã được Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng tháng 3-1945 nêu ra. Hội nghị quyết định phát triển lực lượng vũ trang và thống nhất Việt Nam cứu quốc quân với Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam giải phóng quân. Để tạo thành những bàn đạp cho cuộc tổng khởi nghĩa, Hội nghị quyết định xây dựng 7 chiến khu trong cả nước: Chiến khu Lê Lợi, chiến khu Hoàng Hoa Thám, chiến khu Quang Trung, chiến khu Trần Hưng Đạo, chiến khu Trưng Trắc, chiến khu Phan Đình Phùng và chiến khu Nguyễn Tri Phương.

Ngày 16-4-1945 tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Uỷ ban dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam.

Đình Tân Trào, Sơn Dương (Tuyên Quang) nơi diễn ra Đại hội Quốc dân cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), ngày 16-8-1945
Đình Tân Trào, Sơn Dương (Tuyên Quang) nơi diễn ra Đại hội Quốc dân cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), ngày 16-8-1945

Đầu tháng 5 năm 1945 đồng chí Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị đại hội quốc dân. Ngày 4 tháng 6 năm 1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập đặt dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban chỉ huy lâm thời. Khu giải phóng trở thành căn cứ địa của cả nước. Trên thực tế ở nước ta lúc đó đã hình thành trạng thái hai chính quyền song song tồn tại: chính quyền phản động tay sai của phát xít Nhật và chính quyền của nhân dân ở khu giải phóng và ở các địa phương. Phạm vi hoạt động của chính quyền nhân dân tuy còn nhỏ, nhưng thanh thế của nó mỗi ngày một rộng lớn. Nó đang ở chiều hướng phát triển tất thắng. Cao trào chống Nhật, cứu nước càng dâng lên mạnh mẽ khi được thắng lợi của Hồng quân Liên Xô cổ vũ. Quân đội Nhật ở Đông Dương mất tinh thần, hoang mang, rệu rã. Chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim hoàn toàn tê liệt từ trên xuống dưới. Tin Nhật đầu hàng truyền đi khắp cả nước đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng lên cao chưa từng thấy trong các tầng lớp nhân dân, ở tất cả các địa phương. Mặt trận Việt Minh đã thu hút hàng triệu hội viên và đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ Việt Minh. Quân đội Nhật tê liệt trước sức mạnh của làn sóng cách mạng dâng cao. Tình hình trên chứng tỏ tình thế cách mạng trực tiếp đã chín muồi.

Để đẩy mạnh hơn nữa công tác chuẩn bị tổng khởi nghĩa, cần có sự nhất trí cao hơn về đường lối cách mạng trong Đảng và trong hàng ngũ cách mạng. Đảng đặc biệt chú trọng đấu tranh chống lại ảnh hưởng của giặc Nhật và phê phán tư tưởng thân Nhật, sợ Nhật hoặc lợi dụng Nhật. Đảng kịch liệt vạch trần những thủ đoạn lừa bịp của phát xít Nhật và các đảng phái chính trị thân Nhật, những luận điêụ khiêu khích và phá hoại của bọn tơ-rốt-xkít.

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Theo lời hiệu triệu của Việt Minh, toàn thể dân tộc, triệu người như một đã đồng loạt nổi dậy cầm lấy tất cả những gì có thể làm vũ khí tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang. Trong thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Thời cơ cách mạng nghìn năm có một đã đến. "Chúng ta không thể chậm trễ".

Từ giữa tháng 8 năm 1945, quân đội Tưởng đã được lệnh và đang vội vã tiến vào nước ta từ phía bắc; quân đội Anh cũng đang gấp rút chuẩn bị tiến vào nước ta từ phía nam. Lợi ích sống còn của nhân dân ta đòi hỏi Đảng phải phát huy cao độ trí tuệ và sức mạnh của toàn dân tộc, mau chóng giành lấy thắng lợi trong cuộc đấu tranh "ai thắng ai" giữa nhân dân ta với các tập đoàn đế quốc và phản động.

Ngày 12 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban lâm thời khu giải phóng hạ lệnh cho Quân giải phóng, các đội du kích, tự vệ phối hợp với toàn thể nhân dân trong khu đánh vào các đô thị, tiến hành khởi nghĩa. Đêm 13 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, từ ngày 13-8 đến ngày 15 tháng 8 đã nhận định: "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi... quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần...toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa giành quyền độc lập". Sau Hội nghị toàn quốc của Đảng; Đại hội quốc dân cũng họp tại Tân Trào vào ngày 16 tháng 8. Trong Đại hội này, Đảng ta đã nêu cao chủ trương dúng đắn lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai của Nhật, đứng ở địa vị làm chủ nước mình mà tiếp đón quân đội Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương. Đại hội nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và 10 chính sách của Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Lễ tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945

Thấm nhuần đường lối tổng khởi nghĩa của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", toàn dân tộc đã nhất tề nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhanh chóng giành lấy chính quyền về tay nhân dân.

Ngày 2 tháng 9 năn 1945, tại vườn hoa Ba Đình Hà Nội, trước cuộc mít tinh của gần 1.000.000 người, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: nước Việt Nam dân chủ cộng hoà độc lập và tự do ra đời.

Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ngày 3-11-1946

Nói về ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc"./.

Theo ĐCSVN

Gửi ý kiến bạn đọc

Refresh